Luyenkim.Net!

...where your idea grows!

 
  • Decrease font size
  • Default font size
  • Increase font size
Trang chủ arrow DIỄN ĐÀN
Luyện kim
Banner
Minh Biện's blog - Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết (1 đang xem) (1) Khách
Bài viết dưới cùng Gửi trả lời Được ưa thích: 0
CHỦ ĐỀ - Minh Biện's blog - Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết
#2099
blogger
(Người điều hành)
Moderator
Bài viết: 51
graphgraph
Thành viên gián tuyến Click vào đây để xem thông tin về thành viên này
Minh Biện's blog - Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết 6 Tháng, 1 Tuần trước đây Đánh giá: 1  

Bài viết mới nhất

Minh Biện

Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết

Subscribe: Bloglines, Google Reader, My MSN, Netvibes, Newsburst
Newsgator, Odeo, Podnova, Rojo, My Yahoo!, Desktop Reader

Favicon Bức thư ngỏ trên tờ Manila Times 21 Nov 2008, 5:11 pm

Đây là bức thư ngỏ được đăng trên báo Manila Times ngày 17/11/2008 đằng sau mẩu tin trên BBC.


An open letter to the citizens and governments of the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam regarding the sovereignty dispute in the South China Sea


From the South East Asian Sea Foundation - www.seasfoundation.org


The South China Sea is bordered by the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam and China. This Sea is vital to these countries’ economies, transportation and security. In the wider world, the South China Sea is one of the most important maritime routes in the world; it is vital to the economic prosperity of South East Asia, Japan, Korea, Taiwan and all important trading nations. Therefore, the South China Sea dispute is a concern to us all.




Illustration of the allocation of exclusive economic zones based on UNCLOS. Continental shelves are allocated based on similar principles. China’s claim is shown for contrast. The 12-nautical-mile territorial waters of the Paracels, Spratlys and Scarborough Shoal are excluded from this allocation, pending a settlement of the sovereignty disputes over these features.



(Bản đồ minh họa phân chia vùng đặc quyền kinh tế theo UNCLOS. Thềm lục địa cũng sẽ được phân chia theo nguyên tắc UNCLOS. Bản đồ cho thấy tuyên bố của Trung Quốc đi ngược lại với cách phân chia này. Các vùng lãnh hải 12 hải lý của Quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Hoàng Sa và Scarborough Shoal không được tính vào vùng phân chia này, cho tới khi các tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này và Scarborough Shoal được giải quyết.)


Among the protagonists, China stands out as by far the biggest threat to all countries. Firstly, while most conflicting claims of sovereignty are over small islands, reefs and rocks, China is unique in claiming virtually the whole South China Sea. Secondly, China’s military is the largest by far and is also the subject of the fastest military build up in the region. Thirdly, China is unique among the protagonists in having a history of using force to seize disputed islands from other nations.


China’s claim in the South China Sea is comparable to one person claiming sole ownership of the oxygen in the air. Not only is this claim without basis in law or fairness, if it is realized, South East Asia can be dominated and nations that need traverse through the South China Sea can be choked in times of conflict.


It is therefore vital that the South China Sea is not turned into China’s territory or into China’s lake. The Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam, ASEAN, China and all nations in the world have rights in this international Sea according to the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). The Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam, ASEAN and other concerned nations must work together to safeguard these rights against China’s unjust ambitions.


We propose that the citizens and governments of the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam put aside differences and work together towards a solution based on the following principles, which are based on UNCLOS. We further propose that other concerned nations promote and support such a solution.



  1. The South China Sea features, e.g., islands, reefs, rocks, that are not naturally above high tide are not entitled to territorial waters, exclusive economic zone or continental shelf.

  2. Each disputed feature that is naturally above high tide is entitled to 12 nautical miles of territorial waters but no exclusive economic zone or continental shelf beyond 12 nautical miles. The country that will eventually be deemed to have sovereignty over a disputed feature shall also have sovereignty over the territorial waters around that feature but cannot use it to claim exclusive economic zone or continental shelf beyond 12 nautical miles.

  3. The area of the South China Sea outside the territorial waters of the disputed features shall be allocated as territorial waters (subject to UNCLOS Part II), exclusive economic zones (subject to UNCLOS Part V) and continental shelf (subject to UNCLOS Part VI) belonging to China, the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam.

  4. The baselines used in the above allocation shall conform to UNCLOS (Articles 5, 6, 7 and, in the case of the Philippines and Indonesia only, Article 47).

  5. Where there are disputes due to overlapping maritime zones, the disputes shall be resolved equitably and with results consistent with international law.

  6. The rights of other nations as granted by UNCLOS shall be guaranteed.


The disputed features, namely, the Spratlys, the Paracels and Scarborough Shoal are not entitled to exclusive economic zone or continental shelf. Thus, the allocation of exclusive economic zones and continental shelf does not depend on the question of sovereignty over the disputed features, and this allocation can be achieved even while the question of sovereignty is unresolved. This will safeguard the rights and security of the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Vietnam and all other nations.


If the Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia and Vietnam continue to pursue their individual claims without support from each other or from the international community, the South China Sea will eventually be turned into China’s territory or, at least, China’s lake. The best chance these countries have to prevent this is by having the same voice on the international stage, working together on the basis of fairness for all and in accordance with UNCLOS, supporting each other, and being supported by the international community.



Bản dịch tiếng Việt:


Thư ngỏ gửi nhân dân và chính phủ các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông


Quỹ Nghiên cứu Biển Đông – The South East Asian Sea Foundation www.seasfoundation.org


Biển Đông tiếp giáp với Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và Trung Quốc. Biển Đông rất quan trọng cho kinh tế, giao thông vận tải và an ninh của các nước này. Đối với quốc tế, Biển Đông là một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất trên thế giới; nó đóng vai trò sống còn cho thịnh vượng kinh tế của Đông Nam Á, Nhật Bản, Triều Tiên, Đài Loan và tất cả các quốc gia giao thương quan trọng.


Do vậy, tranh chấp Biển Đông là mối quan tâm của tất cả chúng ta. Trong những nước tranh chấp thì Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất đối với tất cả các nước còn lại. Trước hết, trong khi hầu hết các đòi hỏi trái ngược nhau chỉ liên quan đến chủ quyền đối với các đảo nhỏ, đá và bãi ngầm thì Trung Quốc là nước duy nhất tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Thứ hai, quân đội của Trung Quốc lớn nhất và cũng là quân đội phát triển nhanh nhất trong vùng. Thứ ba, Trung Quốc là quốc gia duy nhất trong những nước tranh chấp có truyền thống sử dụng vũ lực để chiếm các đảo của các nước khác.đang trong tình trạng tranh chấp


Tuyên bố của Trung Quốc trong Biển Đông có thể so sánh với việc một người tuyên bố rằng anh ta là người duy nhất sở hữu toàn bộ ô xy trong không khí. Không những tuyên bố này không có cơ sở pháp lý và bất công , mà nếu chúng trở thành sự thực thì Đông Nam Á có thể bị Trung Quốc thống lĩnh và các quốc gia khác cần đi qua Biển Đông sẽ bị ngăn chặn trong quá trình tranh chấp.


Do vậy việc làm sao để Biển Đông không trở thành lãnh thổ hay cái hồ của Trung Quốc là điều quan trọng mang tính sống còn. Các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam, ASEAN, Trung Quốc và tất cả các quốc gia khác trên thế giới đều có quyền trên vùng biển quốc tế này theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam, ASEAN và các quốc gia liên quan khác phải cùng nhau hành động để bảo vệ những quyền này, chống lại tham vọng bất công của Trung Quốc.


Chúng tôi kiến nghị công dân và chính phủ các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam hãy gác lại các bất đồng để cùng nhau hành động, hướng tới một giải pháp cho biển Đông dựa trên UNCLOS theo các nguyên tắc mà chúng tôi đề nghị dưới đây. Chúng tôi xin cũng kiến nghị tất cả các quốc gia liên quan khác tích cực ủng hộ một giải pháp như vậy.


1. Các đối tượng trên Biển Đông như các đảo, đá ngầm và bãi đá nổi không nhô lên một cách tự nhiên khỏi mực thủy triều cao không được dùng làm cơ sở để tính vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.


2. Các đối tượng đang có tranh chấp nhô lên một cách tự nhiên khỏi mực thủy triều cao chỉ được dùng để tính vùng lãnh hải 12 hải lý nhưng không được dùng để tính vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phía ngoài 12 hải lý. Quốc gia cuối cùng được coi là có chủ quyền đối với một đối tượng hiện đang bị tranh chấp cũng sẽ có chủ quyền trên vùng lãnh hải xung quanh đối tượng đó nhưng sẽ không được dùng nó để đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phía ngoài 12 hải lý.


3. Khu vực Biển Đông ngoài các vùng lãnh hải của các đối tượng có tranh chấp sẽ được quy định là các vùng lảnh hải (theo Phần II UNCLOS), vùng đặc quyền kinh tế (theo Phần V UNCLOS) và thềm lục địa (theo Phần VI UNCLOS) thuộc về Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam.


4. Các đường cơ sở được sử dụng cho việc phân chia nói trên sẽ tuân theo UNCLOS (Điều 5, 6, 7 và, chỉ trong trường hợp của Philippines và Indonesia, theo Điều 47).


5. Tại các nơi có tranh chấp do sự chồng lấn của các vùng biển thì các tranh chấp sẽ được giải quyết công bằng và tuân theo luật quốc tế.


6. Quyền của các quốc gia khác được UNCLOS ghi nhận sẽ được bảo đảm.


Các đối tượng đang bị tranh chấp, bao gồm Quần đảo Trường Sa (Spratlys), Quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và Scarborough Shoal không được dùng để tính các vùng đặc quyền kinh tế hay là thềm lục địa. Do đó, việc phân chia các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không phụ thuộc vào vấn đề chủ quyền trên các đối tượng có tranh chấp. Sự phân chia này có thể thực hiện cho dù vấn đề tranh chấp chủ quyền của các đối tượng nói trên vẫn chưa giải quyết được. Việc phân chia này đảm bảo quyền và an ninh của các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Việt Nam và tất cả các quốc gia khác.


Nếu Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Việt Nam tiếp tục theo đuổi các tuyên bố của từng quốc gia mà không hỗ trợ lẫn nhau hoặc không có sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế thì cuối cùng Biển Đông sẽ trở thành lãnh thổ Trung Quốc, hay chí ít cũng trở thành cái hồ của nước này. Cơ hội tốt nhất để các quốc gia có thể ngăn chặn được nguy cơ nói trên là bằng cách có cùng chung tiếng nói trên trường quốc tế, cùng hành động với nhau trên cơ sở công bằng cho tất cả các nước tuân theo UNCLOS, cùng hỗ trợ lẫn nhau và cùng tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Sóng ngầm dưới mặt biển hữu nghị 18 Nov 2008, 5:56 pm

Đây là một bản thảo của bài được đăng trên BBC


Sóng ngầm dưới mặt biển hữu nghị


Dương Danh Huy và Lê Minh Phiếu

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông - www.seasfoundation.org


Việt Nam và Trung Quốc hiện nay đang trong quá trình đàm phán phân định chủ quyền vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Vùng biển được đàm phán, theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, là “đoạn từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Huế, Đà Nẵng” [1]. Tuyên bố chung của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo ngày 25/10/2008 nói, “Hai bên tiếp tục thúc đẩy một cách vững chắc đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và tích cực trao đổi về vấn đề hợp tác cùng phát triển, sớm khởi động khảo sát chung ở khu vực này”[2].




Bản đồ 1: Khu vực ngoài của Vịnh Bắc Bộ - một số thử thách đối diện Việt Nam trong đàm phán.



Cuộc đàm phán này đã diễn ra từ vài năm, Việt Nam và Trung Quốc đang “từng bước thu hẹp khác biệt”[4] , lãnh đạo hai bên “nhất trí đẩy nhanh tiến trình đàm phán”[5] và đẩy nhanh việc khởi động khảo sát chung. Nhưng đến nay phạm vi chính xác của vùng đàm phán hay khảo sát chung, những đòi hỏi và lập luận mà hai bên đưa ra, cũng như những thoả thuận đã đạt được vẫn chưa được công bố.


Cuộc đàm phán này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam, nhưng lại phức tạp hơn những cuộc đàm phán trước đây để phân định ranh giới với với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, với Thái Lan và với Indonesia.


Cuộc đàm phán này quan trọng vì kết quả của nó ảnh hưởng đến ranh giới biển của Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bên ngoài vùng biển này. Đặc biệt, nó có thể liên quan tới chủ quyền đối với Hoàng Sa vốn đã bị Trung Quốc chiếm đóng và đang trong tình trạng tranh chấp (nói là “có thể” vì phạm vi chính xác của vùng biển được đàm phán bởi hai bên chưa được công bố).


Những thử thách mà Việt Nam có thể gặp phải trong cuộc đàm phán đầu tiên với Trung Quốc để phân định ranh giới trên Biển Đông này trước tiên liên quan đến Hoàng Sa. Nhưng, với tham vọng bành trướng của Trung Quốc, những thử thách cũng xuất phát từ những khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa.


Yếu tố Hoàng Sa


Trong tầm ảnh hưởng có thể của Hoàng Sa, Việt Nam và Trung Quốc có thể dựa vào tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Hoàng Sa phía bên kia đường trung tuyến (đường màu đỏ trong bản đồ trên)[10].


Trên thực tế, năm 1996 Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở thẳng xung quanh Hoàng Sa, đòi hỏi rằng khu vực bên trong đường cơ sở có diện tích 17.400 km² là nội thuỷ và khu vực 12 hải lý bên ngoài từ đường cơ sở đó là lãnh hải của họ, mặc dù đường cơ sở đó vi phạm UNCLOS[6]. Trung Quốc cũng có thể sẽ đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế xa hơn những vùng này phía bên Việt Nam của đường trung tuyến. Nếu Việt Nam chấp nhận những đòi hỏi này, vùng đặc quyền kinh tế mà Việt Nam được hưởng sẽ bị thu hẹp. Nguy hiểm hơn, nếu chấp nhận như thế thì có nghĩa là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.


Trong khả năng ngược lại, Việt Nam cũng có thể dựa vào chủ quyền đối với Hoàng Sa để đòi hỏi những vùng biển bên kia đường trung tuyến. Tuy nhiên, Trung Quốc, với lợi thế là nước có nhiều sức mạnh và là nước đang chiếm đóng Hoàng Sa (dù việc chiếm đóng đó là bât hợp pháp chiếu theo luật quốc tế), sẽ khó mà chấp nhận những yêu sách như vậy của Việt Nam.


Trước thử thách này, Việt Nam khó có thể đòi được sự công bằng trong đàm phán về vùng biển bên trong tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa cho đến khi nào vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa được giải quyết một cách công bằng, ví dụ như bởi Toà án Công lý Quốc tế.


Khu vực ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa


Bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Trung Quốc và Việt Nam hiện cũng đang tranh chấp ngay cả những vùng biển đương nhiên thuộc về Việt Nam.


Năm 2004 Trung Quốc kéo giàn khoan dầu Kantan 3 tới hoạt động tại khu vực có toạ độ 17°26′42″ Bắc, 108°19′05″ Đông, cách Việt Nam 63 hải lý và cách Trung Quốc 67 hải lý[7], cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa 205 hải lý, tức là ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối với lý do “Căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, khu vực này hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”[8]. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố là khu vực này nằm bên Trung Quốc của vùng biển ngoài của Vịnh Bắc Bô, do đó Trung Quốc cho rằng sự phản đối của Việt Nam không có cơ sở và không thể chấp nhận được[9].


Cho tới nay Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc đã công bố một số lô dầu khí lấn sang bên Việt Nam của đường trung tuyến. Trong những lô dầu khí này, vùng LD29-1 nằm hoàn toàn bên Việt Nam và phân nửa vùng LD20-1 nằm bên Việt Nam của đường trung tuyến. Theo bản đồ năm 2002 của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc thì hai vùng dầu khí này đang được triển khai. Vùng lấn sang bên Việt Nam nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, cách bờ biển đất liền của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc dưới 75 hải lý, cách các đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa từ 160 hải lý tới 215 hải lý.




Bản đồ 2: Bản đồ của Công Ty Dầu Khí Hải Dương Trung Quốc . Vào năm 2002, hai vùng dầu khí LD29-1 và LD20-1 được triển khai.


Việc Trung Quốc trắng trợn thừa nhận chủ quyền [11] đối với một khu vực dù cách Việt Nam 63 hải lý, cách Trung Quốc 67 hải lý, bên ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, và đối với những khu vực tương tự, nói lên phần nào thử thách mà Việt Nam phải đối diện trong đàm phán.


Trong vùng biển ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa, Việt Nam phải vượt qua những thử thách này để đạt được một hiệp định ranh giới biển công bằng. Một hiệp ranh giới biển công bằng là cơ sở pháp lý mạnh mẽ nhất để bảo vệ chủ quyền trước những trường hợp xâm lấn như trên.


Thử thách


Những điều trên cho thấy, đằng sau tuyên bố chung của Việt Nam và Trung Quốc, vẫn tồn tại nhiều thử thách để Việt Nam đạt được sự công bằng trong việc phân định chủ quyền và hợp tác với Trung Quốc trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.


Hơn lúc nào hết, chúng ta cần quan tâm về cuộc đàm phán phân định và trao đổi hợp tác ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, cần tìm hiểu thêm về sự công bằng cho đất nước và để biết rõ về những thử thách đang đối diện để đạt được sự công bằng ấy. Ý chí, kiến thức của mỗi người sẽ làm nên sức mạnh từ toàn dân và điều này sẽ giúp Việt Nam đối phó với những thử thách nhằm bảo toàn chủ quyền của đất nước mà tiền nhân đã để lại.


Chú thích


[1] Xuân Linh (ghi) “Thứ trưởng Ngoại giao: Vùng khai thác dầu thuộc chủ quyền VN”, Vietnam Net, 27/08/2008. Bản trên Google cache (kiểm tra ngày 12/11/2008): http://216.239.59.104/search?q=cache:U5hKj97NXBMJ:www.vietnamnet.vn/chinhtri/2008/08/800731/+vietnamnet+%2Bthu%2Bhep%2Bkhac%2Bbiet&hl=en&ct=clnk&cd=4&gl=uk

[2] “Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc”, Cổng thông tin của Chính phủ: http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,128127&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id=130959&item_id=9921858&p_details=1

[3] Các lô dầu khí Trung Quốc từ bản đồ của Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (bản đồ 2)

[4] Xuân Linh (ghi), bài báo trên Vietnam Net đã dẫn.

[5] “Tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Việt-Trung”, TTXVN: http://www.vnagency.com.vn/TrangChu/VN/tabid/58/itemid/273396/Default.aspx

[6] Daniel J. Dzurek: “The People’s Republic of China Straight Baseline Claim”, International Boundary Reasearch Unit, Durham University, Boundary and Security Bulletin Summer, 1996, p. 77 – 89

[7] Nguồn: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Dũng trả lời phóng viên ngày 19/11/2004 liên quan đến việc tàu Nam Hải 215 kéo dàn khoan vào vùng thềm lục địa Việt Nam, BNG: http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/tt_baochi/pbnfn/ns041119155205

[8] Nguồn: Trả lời của ông Lê Dũng, link đã dẫn.

[9] Chinese Foreign Ministry Spokesperson Zhang Qiyue’s Press Conference, 23/11/2004, http://www.china-botschaft.de/det/fyrth/t171773.htm

[10] Bản đồ chi tiết đường trung tuyến



[11] Lẽ ra phải dùng từ TQ trắng trợn “tuyên bố chủ quyền” chứ không phải “thừa nhận chủ quyền”. Xin cảm ơn bác Hồ Gươm X-Cafe.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Ngập lụt đô thị và quản trị khủng hoảng 14 Nov 2008, 3:36 am

Nếu lũ lụt ở nông thôn vốn không xa lạ gì với người Việt, thì ngập lụt ở đô thị là hiện tượng mới, xuất hiện cùng với sự phình to nhanh chóng của các đô thị trong hai chục năm qua. Giới nghiên cứu sẽ còn mổ xẻ những sai lầm và thiếu sót trong quy hoạch đô thị, dự báo khí tượng thuỷ văn, kế hoạch trị thuỷ cho sông Hồng. Bài viết này tập trung vào một khía cạnh ít được quan tâm hơn, chỉ ra đặc thù của ngập lụt đô thị từ thực tiễn trận lụt vừa qua của Hà Nội, nhằm rút tỉa một số nguyên tắc về ứng phó khẩn cấp.


Nhìn từ góc độ chống lụt, đô thị có ba đặc điểm cơ bản: là nơi tập trung dân cư phi nông nghiệp, có nhà cửa kiên cố và mặt đất được cứng hoá phần lớn. Ba đặc điểm này dẫn đến các đặc thù của úng ngập đô thị so với lũ lụt nông thôn, đòi hỏi các ưu tiên và giải pháp rất khác biệt. Theo dõi diễn biến ứng phó với mưa lụt ở Hà Nội, người ta có thể nhận thấy những lúng túng của nhà chức trách chủ yếu xuất phát từ việc chưa phân biệt rõ những đặc thù của ngập lụt đô thị.



Khả năng thoát úng và bản đồ ngập lụt


Do mặt đất đã bị cứng hoá do xây đường sá, nhà cửa, khả năng thoát úng tự nhiên của đất trong các đô thị thấp hơn hẳn so với nông thôn. Các đô thị với bề mặt đất bị cứng hoá từ 75% đến 100% chỉ có khả năng tự thoát bằng một phần năm so với đất tự nhiên. Hơn một nửa lượng nước mưa sẽ biến thành nước chảy tràn (run-off water). Chính vì thế, đô thị có diện tích xây dựng càng dày đặc (như nội thành Hà Nội) thì nguy cơ úng ngập càng cao và khả năng tự thoát lụt càng chậm.


Đặc thù này dẫn tới bất ngờ thứ nhất cho chính quyền Hà Nội: không lường trước được quy mô úng ngập, kể cả sau khi đã nhận ra lượng mưa bất thường. Chính vì thế, Hà Nội đã phản ứng khá chậm chạp trong ba ngày ngập lụt đầu tiên. Sự bất ngờ này cũng khiến cho trạm bơm Yên Sở, chủ lực thoát lụt của thành phố, suýt phải ngừng hoạt động vì ngập trong nước.
















Trạm bơm Yên Sở ngập trong nước. Ảnh báo Tuổi trẻ





 


Để tránh bị bất ngờ, các đô thị với nguy cơ lụt lội cao (có nghĩa là hầu hết các đô thị của Việt Nam) cần lập bản đồ nguy cơ ngập lụt của thành phố tương ứng với lượng mưa và mức lũ khác nhau. Các bản đồ này sẽ làm cơ sở để để xác định thời điểm và khu vực cần cứu trợ, cũng như việc bố trí các kho nhu yếu phẩm phòng lũ và các tuyến đường huyết mạch cần bảo vệ.


Nhu cầu hàng đầu: nước sạch, giao thông và dịch vụ công ích


Khác với nông thôn, tính mạng của đa số người dân thành phố không bị đe doạ trực tiếp khi có lụt. Họ có nhà cửa kiên cố hơn, và vì thế có sẵn một chỗ trú cao ráo để tránh bị kiệt sức do dầm mình trong mưa bão. Chính lợi thế này của thị dân đã làm cho các nhà quản lý do dự khi đặt vấn đề có cần cứu trợ cho Hà Nội mấy ngày đầu trận lụt.


Nhưng chính sự an toàn tương đối của nhà ở và công trình đô thị lại che khuất một điểm yếu căn bản của nó, là sự phụ thuộc vào hệ thống phân phối phức tạp. Khác với nông thôn, nơi người dân vẫn thường tự giải quyết các vấn đề về nước sạch, thoát nước, rác thải, chữa cháy v.v. người dân thành phố hoàn toàn phải dựa vào các công ty dịch vụ công. Khi các công ty này tê liệt do giao thông ách tắc thì người dân cũng buộc phải bó tay nhìn cuộc sống của mình đảo lộn. Đặc thù này dẫn đến cảm nhận sai lạc là người dân “ỷ lại” vào chính quyền. Đáng lẽ ra, hoạt động của các công ty công ích này phải được ưu tiên hàng đầu trong những ngày lũ. Chẳng hạn, họ phải được dành quyền ưu tiên trong giao thông, được dùng các bãi tập kết xe tạm thời ở vị trí thuận lợi v.v.
















Rất khó tiếp cận với người bán lương thực, thực phẩm - Ảnh báo Tuổi trẻ





 


Nhu cầu về nước sạch của người dân thành phố đặc biệt khẩn cấp trong ngày lũ. Họ không thể dùng tạm nước sinh hoạt bằng nước lũ, vốn bị ô nhiễm nặng nề hơn nhiều so với nông thôn. Điều này dẫn tới bất cập thứ ba trong ứng phó của Hà Nội: Khi áp dụng máy móc công thức “mỳ tôm”, vốn chỉ phù hợp với cứu trợ bão lụt nông thôn, cơ quan cứu trợ đã không chú ý đúng mức đến nước sạch cho các vùng bị ngập nặng. Nhiều người dân Hà Nội đã phải thốt lên “Chúng tôi không đói đến mức cần mì tôm, chúng tôi cần nước sạch”.
















Nước lụt Hà Nội bị ô nhiễm nặng nề, không thể dùng cho sinh hoạt Ảnh báo Tuổi trẻ





 


Thị trường và chính quyền: ai làm gì trong lũ lụt


Khác với nông dân bị mất mùa màng hay vật nuôi, nguồn thu nhập của người dân thành phố không bị ảnh hưởng nặng bởi lũ lụt. Thị dân chỉ cần chợ búa mở cửa và đi lại được là có thể tự xoay xở. Vì thế, hoạt động cứu trợ không cần nhắm vào trợ cấp tiền bạc, mà phải nhanh chóng thiết lập các chợ tạm và xe bán hàng lưu động.


Mặt khác, trong tình trạng chỉ ngập lụt từng phần như ở Hà Nội vừa qua, phần lớn các công ty thương mại và siêu thị không bị ảnh hưởng. Họ hoàn toàn có khả năng cung cấp nhu yếu phẩm cho người dân, miễn là giao thông được đảm bảo, và trong trường hợp đặc biệt khó khăn, thì cần thêm sự hỗ trợ về phương tiện vận tải từ phía chính quyền.


Vì thế, đảm bảo cho người mua gặp được người bán nhu yếu phẩm trong lũ lụt là then chốt của cứu trợ đô thị. Điều này dẫn đến bất cập thứ tư là chính quyền Hà Nội, thay vì hỗ trợ các công ty thương mại bán hàng đến người dân, lại tự mình đi cấp phát lương thực. Trong đợt lụt vừa qua, chỉ đến ngày 3/11, mới có 3 điểm bán gạo lưu động của Tổng công ty lương thực miền Bắc. Hệ thống siêu thị mặc dù đã nỗ lực chuyển thực phẩm ra Hà Nội nhưng không có hỗ trợ từ chính quyền thành phố nên đã không thể lập ra các điểm bán thực phẩm lưu động.


Cập nhật tình hình lụt dựa vào mạng lưới thông tin đô thị


Đô thị cũng có những yếu tố đặc biệt thuận lợi để hạn chế ảnh hưởng của lụt lội. Hệ thống thông tin ở đô thị dày đặc hơn nhiều so với nông thôn. Hà Nội có các kênh truyền hình, truyền thanh, báo chí địa phương lớn nhất nhì cả nước; hệ thống loa phường dày đặc, biển điện tử trên đường phố khá nhiều. Người dân Hà Nội cũng có tỉ lệ dùng điện thoại cố định, di động và TV nhiều nhất nhì cả nước. Quan hệ xã hội chằng chịt (cả thực và qua internet) giữa họ sẽ là kênh lan truyền thông tin rất hiệu quả và kịp thời.


Không tận dụng được lợi thế này đã dẫn đến bất cập thứ năm: Trong mấy ngày đầu của mưa lụt, trên các kênh thông tin của chính quyền thành phố, thông tin và cảnh báo về tình trạng ngập lụt ở các tuyến đường, hướng dẫn giao thông hầu như thiếu vắng và xa lạ. Trong lúc đó, các diễn đàn internet thì đầy ngập thành viên tự cập nhật tình hình lụt lội tin với nhau. Các trường học cũng hoàn toàn có thể dùng internet để thông báo quyết định nghỉ học và để thông tin tự lan truyền trong mạng lưới học sinh sinh viên. Nếu như các mạng lưới và kênh thông tin này được tận dụng thì sẽ không có hàng triệu lượt người Hà Nội dầm mình trong nước lụt và cái chết thương tâm của các em học sinh khi đang đến trường.
















Ảnh: Học sinh Hà Nội dầm mình trong nước đến trường (Sưu tầm)





 


Chia cắt lũ để bảo vệ huyết mạch giao thông


Thông thường, các úng ngập đô thị được gây ra bởi lượng nước nhỏ hơn nhiều so với lũ. Vì thế, hoàn toàn có thể chia cắt và giảm thiểu các vùng ngập lụt, đảm bảo giao thông huyết mạch bằng các kè, bao tạm thời như đã được thực hiện ở nhiều thành phố trên thế giới. Các thiết bị như thế hoàn toàn vắng bóng trong trận lụt vừa qua. Kết quả là Hà Nội đã không thể chống lụt ở bất kì tuyến đường quan trọng nào, khiến các dịch vụ cho các vùng lụt bị ngưng trệ nghiêm trọng.
















Không chia cắt lũ để bảo vệ các tuyến huyết mạch, giao thông rối loạn (Ảnh sưu tầm từ Internet)





 


Chuẩn bị cho những tình huống xấu hơn


Tổn thất rất nặng nề, nhưng Hà Nội vừa qua vẫn may mắn là trận mưa lịch sử đã không đi kèm với nước lũ trên sông Hồng. Những thảm hoạ dồn dập do sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, và sự xâm phạm thô bạo của con người vào đê sông Hồng không thể khiến ta yên tâm về số phận của nó. Khai thác cát bừa bãi trên sông Hồng, các đại dự án đòi nắn dòng hay thu hẹp sông Hồng, các cầu mới vượt sông làm dâng nước vẫn được gợi ý hay tiến hành ngày đêm. Ngay trong đợt mưa vừa rồi, mặc dù không có sức ép từ lũ sông Hồng, một số kè (Liên Trì, Gia Thượng, Thuỵ Phương) đã bị sạt lở, sụt mạch.


Lượng mưa năm sáu mươi triệu mét khối nước đổ xuống Hà Nội tuy lớn, vẫn chỉ là con số lẻ so với lưu lượng trên sông Hồng vào những ngày lũ lớn (có thể lên tới hàng tỉ mét khối nước/ngày). Cũng xin nhắc lại rằng độ cao trung bình của Hà Nội là 7-8 mét so với mặt biển, thấp hơn 7 mét so với đỉnh lũ trên sông Hồng đoạn qua Hà Nội trong cơn lũ lịch sử 1971 (theo ước tính đã giết chết hơn một trăm ngàn người). Phương tiện và lực lượng cứu hộ của Hà Nội lúc đó sẽ thế nào, trong khi các dịch vụ công của thành phố bị tê liệt bởi trận mưa to, và ngay cả lãnh đạo thành phố cũng đi thuyền tôn đến thăm trạm bơm Yên Sở? Hệ thống bệnh viện, tải thương liệu có thể hoạt động với mức ngập cao hơn nhiều so với trận lụt vừa qua?


Bài học cuối cùng


Kinh tế học hành vi đã chứng minh: con người luôn có xu hướng đánh giá quá thấp xác suất của những thảm hoạ lớn và hiếm. Trong cái hoạ mưa lụt và sự thất vọng về ứng phó của chính quyền, người dân và chính quyền Hà Nội lại có một cơ hội nhìn lại năng lực chống lũ của mình.


Câu hỏi sau đây có lẽ còn nhức nhối rất lâu sau khi nước mưa đã rút: Lúng túng trong nước mưa, Hà Nội sẽ đương đầu thế nào với lũ lớn tương đương cơn lũ 1971?


















































 

Úng ngập đô thị



Lũ lụt nông thôn



Khả năng thoát nước tự nhiên



Thấp



Cao 



Tác nhân kích thích thông thường



Mưa to ở địa phương



Vỡ đê trong mùa lũ



Ưu tiên cứu hộ




  1. Giao thông


  2. Nước ngọt (do ô nhiễm nguồn nước nặng hơn nông thôn)


  3. Lương thực (không gặp được người bán do nước lụt chia cắt)





  1. Chỗ trú ẩn cao ráo để bảo toàn sinh mạng




  2. Lương thực (do mất năng lực kinh tế để mua nhu yếu phẩm)




  3. Giao thông 




Thiệt hại chính




  1. Thiệt hại do đời sống và kinh doanh gián đoạn


  2. Thiệt hại nhà xưởng, máy móc, xe cộ


  3. Chất thải độc hại





  1. Thiệt hại về nhân mạng




  2. Thiệt hại trực tiếp về tư liệu sản xuất (mùa màng, thuỷ sản v.v.), nhà cửa




Khả năng tự khắc phục của người dân



Không tự khắc phục được về rác thải, nước uống và giao thông



Tự khắc phục cao do kinh nghiệm truyền thống



Biện pháp cứu trợ



Thông các mạch giao thông chính


Đảm bảo cung ứng nhu yếu phẩm



Di tản dân lên khu vực cao ráo


Phát lương thực, thực phẩm và đồ thiết yếu



Xu hướng



Ngày càng ngập lụt nặng và thường xuyên hơn



Tương đối ổn định



So sánh ngập lụt đô thị và lũ lụt nông thôn





 


Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Thác Bản Giốc 13 Nov 2008, 6:45 pm

Quan tâm của tôi là các vấn đề Biển Đông chứ không phải ranh giới trên bộ, và tôi không có thì giờ để tìm hiểu về ranh giới trên bộ. Tuy nhiên, gần đây tôi tình cờ thấy một bài trên Vietnam Net làm tôi tò mò. Bài này có đoạn:


Ban Gioc is situated on the border with China, approximately three hours travel on 100 kilometers of winding roads before approaching the waterfalls to see their beauty and magnificence. Ban Gioc are in fact two different waterfalls. The one on the left belongs completely to Vietnam, the one on the right is much bigger and jointly owned by Vietnam and China. The Quay Son River, which divides the two countries, provides the main source of water for this bigger waterfall and serves as a foreground for viewing and close-up photographing.


Đại khái, đoạn này nói thác nhỏ là của VN, thác to là của cả Việt Nam và Trung Quốc. Trong khi đó, người Trung Quốc thường nói là thác nhỏ là của Việt Nam, thác to (họ gọi là thác Detian) là của họ. Tò mò và surf giải trí một chút, tôi đi tới kết luận sau (có thể sai, vì tôi không có thì giờ nghiên cứu kỹ).



Trước khi đổ xuống thác, sông Quây Sơn chia ra thành một luồng chính (chấm đỏ) và hai luồng phụ (xanh da trời và xanh lá cây):



Nếu biên giới ở khu vự này là sông Quây Sơn thì biên giới là đường sâu nhất dọc đáy sông (nguyên tắc thalweg). Nếu vậy thì thác trên luồng chấm xanh da trời là của Việt Nam, thác trên luồng chấm xanh lá cây là của Trung Quốc, và mỗi nước có nửa thác trên luồng chấm đỏ:



Chi tết luồng xanh lá cây của Trung Quốc:



Như vậy có lẽ Vietnam Net đã nói đúng về hiện trạng thác Bản Giốc.


Nhưng có lẽ tồn tại một số vấn đề:


1. Theo nguyên tắc của hiệp định biên giới 1999 thì ở khu vực này sông Quây Sơn là biên giới. Vì sông Quây Sơn tách ra thành nhiều nhánh trong khu vực thác, có thể là sau hiệp định vẫn tồn tại tranh chấp ở Thác Bản Giốc, eg, nếu Trung Quốc cho là nguyên tắc trong hiệp định có nghĩa thác nhỏ là của Việt Nam, thác lớn là của họ. Nói chung, hiệp định biên giới 1999 vẫn để lại một số tranh chấp và cho tới năm nay VN và TQ mới trao bản đồ biên giới độ phân giải cao.


2. Trong hiệp định Pháp-Thanh, ở khu vực này sông Quây Sơn là biên giới hay hoàn toàn thuộc về Việt Nam? Đây là một vấn đề đã được tranh cãi nhiều.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Vài số liệu sau bầu cử Mỹ 6 Nov 2008, 11:07 pm

Trước tiên, xin chia vui cùng bác Dự Trần đã không bị bàn dân thiên hạ tổng sỉ vả vì làm Obama thất trận.


Trong không khí hân hoan chào đón anh da nâu, xin điểm lại một ít thông số liên quan đến bầu cử để xem chuyện gì đã xảy ra hôm 4/11 vừa rồi (Anh nhà vẫn bảo, cái chi không có bằng chứng số má đàng hoàng là chỉ nói mồm suông cho vui - tuy nhiên, cũng phải e dè với tính chính xác của exit polls).


Kết quả thăm dò cử tri trong ngày bầu cử dựa trên exit polls cho thấy những người trẻ tuổi có khuynh hướng ủng hộ Obama. Cứ càng trẻ càng thích anh da nâu: trong nhóm 18-29, tỉ lệ ủng hộ Obama là áp đảo (66% so với 32% ủng hộ McCain). Khoảng cách này thu hẹp dần khi độ tuổi cử tri tăng lên. Đến nhóm 45-64 tuổi thì hai bên có tỉ lệ ủng hộ bằng nhau (49%). Với nhóm cử tri già (65 trở lên) thì McCain có tỉ lệ ủng hộ cao hơn (53% so với 45% ủng hộ Obama).


Thăm dò này cũng cho thấy chủng tộc có đóng vai trò trong chiến thắng của Obama. Trong nhóm cử tri da đen, 95% ủng hộ Obama; trong nhóm Hispanic, tỉ lệ này là 66% so với 32% ủng hộ McCain; trong nhóm da trắng, tỉ lệ này đổi chiều: 43% ủng hộ Obama còn 53% ủng hộ McCain. Nhưng ghi chú thêm là trong nhóm giới trẻ da trắng, có hơn 50% ủng hộ Obama trong khi chỉ có khoảng 40% ủng hộ McCain – cho thấy màu da là yếu tố thứ yếu đối với cử tri trẻ da trắng.


Thêm nữa, kết quả thăm dò cho thấy tỉ lệ thành viên đảng ủng hộ ứng cử viên đảng mình là như nhau (89%), chỉ có 9-10% là chuyển sang ủng hộ ứng viên đảng khác. Nhưng trong nhóm độc lập, tỉ lệ ủng hộ Obama cao hơn hẳn McCain: 52% so với 44%. Số cử tri trung dung (moderate) cũng cùng khuynh hướng này: 60% so với 39%.



Một phần nữa của thăm dò cho thấy khoảng cách thu nhập và khoảng cách thành thị/nông thôn. Dân thành thị thì ủng hộ Obama (63% so với 35%) còn dân nông thôn thì ủng hộ McCain (53% so với 45%). Thu nhập thấp (dưới $50.000/ năm) thì ủng hộ Obama (60% so với 38%), thu nhập trên từ $50.000 trở lên thì tỉ lệ ủng hộ hai bên gần như cân bằng (49%), McCain chỉ nhỉnh hơn 1% ở nhóm thu nhập cao từ $100.000 trở lên. Tuy nhiên, nhóm thu nhập trên $200.000 thì lại quay lưng với ông già này (xem biểu đồ dưới đây).



Tóm lại, trừ nhóm cực hữu, cực già, và trung thành với Cộng hòa, không nhóm nào phản ứng quá tiêu cực với Obama. Dưới đây là bảng tổng kết.



Một số chi tiết khác đáng chú ý:


- Số cử tri da đen và Hispanic đi bầu cao nhất trong lịch sử bầu cử Mỹ. Số cử tri trẻ dưới 30 tuổi và cử tri đi bầu lần đầu tiên cũng cao nhất trong lịch sử bầu cử Mỹ. Bốn nhóm này trong những mùa bầu cử trước chiếm dướic 10% tổng số cử tri. Năm nay họ chiếm đến 30% tổng số cử tri!


- Những năm trước, nếu 40% số người dân đủ quyền đi bầu tham gia bỏ phiếu thì mùa bầu cử đó coi như thành công. Năm nay, tỉ lệ này tăng lên đến 60%.


- Tỉ lệ phiếu đại cử tri giữa Obama và McCain là 2-1. Nhưng tỉ lệ phiếu phổ thông thì là 52%-46%. Hệ thống bầu cử đại diện chứ không phải dân chủ trực tiếp là nguyên nhân của khác biệt này. Trong không khí phấn chấn của chiến thắng, Obama chắc cũng nhận ra trên 56 triệu cử tri đã không chọn mình. Nhưng cũng nên nhắc rằng kể từ thời Franklin Roosevelt chưa có ứng viên Dân chủ nào thắng cử với trên 51% phiếu phổ thông.


- Ở vùng được gọi là đầu não chính trị của Mỹ (Washington DC), 93% cử tri chọn Obama.


- Chiến thắng của Obama làm dịch chuyển bản đổ chính trị của Mỹ: nhiều tiểu bang bầu cho ứng viên Cộng hòa năm 2004 trong mùa bầu cử này đã quay sang bầu cho ứng viên Dân chủ: Indiana, Colorado, Florida, Iowa, Nevada, New Mexico, Ohio, Virginia, North Carolina. Tuy nhiên, có phân tích cho thấy hầu hết các tiểu bang đều chỉ xê dịch trong khoảng 3% so với tỉ lệ năm 2004, và nguyên tắc “được ăn cả” (winner takes all) không phản ánh được điều này.


Nguyên nhân chiến thắng của Obama:


Các cơ quan nghiên cứu số liệu đang chạy cật lực để tìm mô hình thành công của Obama. Một số kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy:


- Truyền thông là một yếu tố quan trọng: Obama được truyền thông chú tâm nhiều hơn hẳn các ứng viên khác (xem hai biểu đồ dưới đây, và các chi tiết liên quan tại đây). Thêm vào đó, tin tức về kinh tế là chủ đề trọng tâm trong suốt một tháng trước bầu cử, được truyền đồng thời với thông điệp của Obama “đổ tội” suy sụp kinh tế cho đảng Cộng hòa, gây hiệu ứng cao. Ba kênh truyền hình công cộng chính cũng đưa tin tức tích cực cho Obama hơn so với McCain – tỉ lệ này là 2-1; chỉ có Fox là đưa tin tích cực cho McCain nhiều hơn (xem thêm chi tiết ở đây).




- Bộ máy tranh cử của Obama hoạt động hiệu quả.


o Một trong những quyết định đúng đắn là dùng Internet làm công cụ vận động tranh cử. Theo Pew, tỉ lệ dân Mỹ ủng hộ đảng Dân Chủ xem video tranh cử, đọc blog, tham gia thảo luận trên các diễn đàn chính trị công cộng vượt xa tỉ lệ này của những người ủng hộ đảng Cộng Hòa, nên các thông điệp của Obama có tầm với rất rộng. Còn tính chung trong toàn bộ xã hội Mỹ thì Internet cũng là nguồn thông tin bầu cử chính trong mùa tranh cử kỳ này, chỉ thua truyền hình: 33% dân Mỹ theo dõi tranh cử qua Internet; tỉ lệ này trong giới trẻ dưới 30 tuổi là 49%, từ 30-49 là 37%, 50-64 là 29%, 65 trở lên là 12%. Đối chiếu các tỉ lệ này với tỉ lệ bầu cho Obama theo tuổi thì thấy sự tương đồng về khuynh hướng khá rõ ràng.


o Quyết định đúng đắn thứ hai là dùng tài chính tranh cử khôn ngoan. Đối chiếu bản đồ phân chia đảng phái và bản đồ tài chính tranh cử của CNN thì thấy rõ các tiểu bang chuyển sang ủng hộ Obama là các tiểu bang mà Obama chi cực nhiều tiền tranh cử, đặc biệt là Florida. Trong tổng số chi phí tranh cử, cao nhất là phần dành cho truyền thông – trên $190 triệu tính đến cuối tháng 10/2008. Xem thêm chi tiết ở đây. Lưu ý là 91% nguồn tài trợ tài chính của Obama là đóng góp của cá nhân (so với khoảng 50% của McCain), và tổng tài chính của Obama nhiều gần gấp đôi McCain.


Còn nhiều yếu tố khác có thể bàn đến (vai trò của kinh tế và vụ bailout làm đảng Cộng Hòa “cắn lưỡi”, chiến dịch tranh cử của McCain, yếu tố Palin…), nhưng vì chưa tìm được số liệu trong hoặc sau ngày bầu cử để hậu thuẫn, nên đành chờ vậy. Ai có thêm số liệu nào hay hay xin chỉ giáo.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia