hunting (Thành viên)
Expert Boarder
Bài viết: 117
|
|
Tạp chí phía trước 9 Tháng, 3 Tuần trước đây
|
Đánh giá: 2
|
Ngòi bút của tri thức - Tinh thần của tuổi trẻ
-
(Wed, 07 Jan 2009 13:43:25 GMT)
Sau những cuộc bạo động nổ ra tại Tây Nguyên của các sắc tộc bản xứ để đòi những quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, đòi sự bình đẳng giữa người Kinh và những sắc tộc khác. Bên cạnh đó, họ muốn lấy lại những mãnh đất phì nhiêu, những cánh rừng bạt ngàn mà người Kinh đứng sau đó là chính quyền Việt Nam trong một thời kỳ đã lấy đi của họ bằng vũ lực, bằng đồng tiền và bằng sự mưu mẹo đã đẩy những người dân Tây Nguyên vào cảnh khốn cùng, dồn họ vào những hóc núi cách trở với đường cái chính, đất đai bạc màu, khó khăn trong trao đổi hàng hóa do đi lại khó khăn, thiếu thốn về phương tiện và làm cho họ mất đi những truyền thống văn hóa. T ây Nguyên theo địa lý hành chính hiện nay gồm năm tỉnh theo thứ tự từ Bắc vào Nam trên dãy Trường Sơn là: Kon Tum, Gia Lai, Đaklak, Đaknông và Lâm Đồng. Tuy vậy, dọc theo các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có những vùng rừng núi khá rộng có sự cư trú của sắc tộc khác người Kinh như Quảng Nam có người Katu. Tỉnh Quảng Ngãi có người Hre. Tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận có người Raglai. Tỉnh Bình Phƣớc có người Mạ v.v Theo nhà thám hiểm đầu tiên đi khắp Tây Nguyên là Henri Maitre thì ông cho rằng Tây Nguyên hay là một bình nguyên rộng lớn đã được nâng lên và sụt xuống trong quá trình kiến tạo của trái đất. Tiếp sau đó, Mắcma bazan phun trào chảy tràn lên bề mặt Tây Nguyên nên vùng đất này khá bằng phẳng. Trƣớc khi có công cuộc Nam Tiến của các chúa Nguyễn thì đối với Champa Tây Nguyên như là một nước nữa chư hầu, nữa là của mình. Đến thời các Chúa Nguyễn, vương quốc Champa suy yếu, dần dần để mất sự bảo hộ các tộc dân Tây Nguyên vào tay các chúa Nguyễn, lãnh thổ Champa bị thu hẹp, phía Bắc giáp với Đàng Trong do các Chúa Nguyễn trị vì, phía Nam giáp với vương quốc Chân Lạp. Do vậy, để mở rộng vương quốc Champa chỉ còn cách xâm lấn lên Tây và áp đặt tại đây một thể chế chính trị mới, khác lạ so với tập quán cư trú, văn hóa lâu đời của thổ dân Tây Nguyên. Do đó đã nhận được sự chống trả quyết liệt của ngƣời Tây Nguyên trong vòng 300 năm. Đến thời của Tây Sơn, Nguyễn Nhạc là ngƣời thường xuyên tiếp xúc với thổ dân Tây Nguyên nên nhận được sự tín nhiệm và tin yêu của người bản địa tại Tây Nguyên. Trong đội quân của Tây Sơn, có rất nhiều chiến binh là người thổ dân gốc Tây Nguyên, mà đáng kể phải là đội tượng binh của Tây Sơn trong lần tiến binh thần tốc năm 1789, với chiến thắng lẫy lừng mùa xuân năm Kỷ Dậu. Trước đó, vào thời các chúa Nguyễn có các cuộc bắt đạo, cải đạo, rồi phong trào Cần Vương có chủ trưởng "Bình Tây sát tả" nên có khá nhiều cha xứ đạo Thiên Chúa Giáo đã lên vùng Tây Nguyên để tránh sự đàn áp,bắt bớ, lại thuận tiên việc hành đạo cũng như thu nạp tín đồ. Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát, họ đã thực hiện hàng loạt cuộc thám hiểm lên Tây Nguyên, trong đó một số tên tuổi trong nhiều thế hệ người sắc tộc Tây Nguyên và cả ngƣời Kinh biết đến đó là: Henri Mai-tre, Jacques Dournes, Goerges Condominas Alexandre Yersin… Đến thời Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, năm 1964 một tổ chức được lập ra với tên gọi FULRO (viết tắt từ Front Uni de Lutte des Races Opprimées trong tiếng Pháp, có nghĩa (Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức). Đây là một tổ chức chính trị, quân sự do một số ngƣời sắc tộc ở Tây Nguyên lập ra chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhằm đòi hỏi sự bình đẳng, địa vị của người Tây Nguyên. Sau 1975 để chống lại chế độ Cộng Sản đến năm 1992 thì kết thúc. Người sắc tộc ở Tây Nguyên bị mất đất, nguyên nhân dẫn đến những xung đột. Từ sau 1975, với chủ trương biến Tây Nguyên thành địa bàn vững chắc về an ninh quốc phòng, tương xứng với chiến lược quan trọng của vùng. Bên cạnh đó, phát triển Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm về kinh tế của cả nước, tận dụng triệt để những ưu đãi mà thiên nhiên đã bạn tặng. Để làm được những chủ trương trên đòi hỏi phải bổ sung cho Tây Nguyên một lực lượng lao động lớn so với số dân mà Tây Nguyên đang có lúc bấy giờ. Dân số ở Tây Nguyên vào năm 1975 chỉ khoảng trên dƣới 1triệu người trong đó người Tây Nguyên bản xứ chiếm trên 80%, và dự kiến ban đầu sẽ đưa lên đây khoảng 5 triệu dân. Do vậy, những cuộc di dân theo chính sách và tự do ồ ạt từ các vùng Đồng Bằng Sông Hồng và vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Việc di dân này cũng đồng thời nhằm giải quyết áp lực dân số quá đông của hai vùng nói trên. Thế nhưng cũng vì thế mà dẫn đến những hậu quả do việc yếu kém trong hoạch định chính sách, không lường trước được những vấn đề nảy sinh do việc di dân mang lại. Trong đó có việc người Tây Nguyên bản địa bị mất đất. Với lối suy nghĩ của người cư dân lúa nước, người Kinh đã san bằng những cánh rừng để bán, để phục vụ canh tác. Các cơ quan trồng cây cao su, cây café ở những nông trường quốc doanh. Bên cạnh việc chặt phá rừng, mà điều này trong những năm của thập kỷ 80-90 chúng ta đã chứng kiến những chiếc xe Reo đi từ những cánh rừng già ra, mang theo đó là không biết bao nhiêu cơ man là gỗ, người Kinh từ miền xuôi lên còn dùng sự khôn khéo, mưu mẹo để mua hoặc chiếm dần những mãnh đất tốt, dọc theo các con đường chính, gần những con sông, suối, những nương rẫy tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu vốn đã quen với tập tính cư trú “nhất cận thị, nhị cận giang”. Từ việc này dần dần đã đẩy người Tây Nguyên bản xứ vào trong những rừng núi xa, cách trở với phố chợ, đi lại khó khăn, trao đổi buôn bán hàng hóa phải phụ thuộc vào những đầu nậu thu mua nông sản chèn ép giá cả nhưng lại có sẵn phương tiện vào đến tận những buôn làng xa xôi để thu mua hàng hóa, mất đi những nương rẫy có khả năng đem lại cho họ những vụ mùa đủ để dư thừa mở những ngày hội tế lễ, hiến sinh cho thần linh. Không những thế, với chính sách khuyến khích định canh định cư, muốn xóa bỏ đi việc mà chính quyền cho rằng “di canh di cư” vốn tồn tại ngàn năm tại mãnh đất này, nên chính quyền đã có những biện pháp nhằm ngăn chặn việc đốt phá rừng làm nương rẫy. Đây là sự nhìn nhận sai lầm nghiêm trọng vì thực ra để nói người Tây Nguyên du canh du cư là thiếu cơ sở. Ta cứ nhìn vào những ngôi nhà Rông, nhà Dài vững chắc có đến cả trăm năm trước thì không thể nói ở họ có cuộc sống không cố định được. Từ việc sai lầm trong cách nhìn nhận, trong hoạch định chính sách, không thể ngăn chặn nổi làn sóng di cư tự do đã đẩy cho người dân Tây Nguyên không còn đất canh tác, rừng thì không thể đốt để làm rẫy theo kiểu luân canh. Và mới đây, trên tờ báo Sài Gòn Giải Phóng đã cánh báo về việc những buôn làng nằm heo hút trong những khu rừng trồng cây cần sa như là một phương thức canh tác mới của mình. Chính những điều này đã tạo những mối xung đột, mất ổn định nghiêm trọng mà Tây Nguyên đang phải gánh chịu. Sự khác biệt về văn hóa- Nguyên nhân dẫn đến những xung đột. Trên đất nước Việt Nam ta được phủ bởi hai nền văn minh lớn của nhân loại, đó là văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Hoa. Thế nhưng ở Tây Nguyên sự ảnh hưởng của hai nền văn minh dường như không có, và nếu có thì cũng bị phủ bởi một lớp rất mỏng. Điều đó đã được minh chứng qua tập tục sinh sống, canh tác, văn hóa, tín ngưỡng… Nhìn những nhà Dài, nhà Rông (có nơi gọi là nhà Gươi) ở Tây Nguyên nó xa lạ so với đền chùa, miếu mão của người Kinh vùng đồng bằng. Trong những nhà Rông, nhà Dài đó cộng đồng Tây Nguyên sinh sống tập thể, sở hữu tập thể theo chế độ mẫu hệ. Họ được những người già trong gia đình, trong buôn kể cho nghe những sử thi về các anh hùng dân tộc. Những lễ hội bỏ mã, lễ ăn trâu là những mùa nông nhàn, khi vụ mùa đã thu hoạch xong, nông sản đã được tích trữ đấy kho lẫm. Họ giết những con trâu để cám ơn thần linh đã cho họ được vụ mùa bội thu và cầu xin trong năm mới họ lại nhận được sự phò trợ của thần linh. Có khi trong một lễ hội bỏ mã, có gia đình giết đến 40 con trâu. Con trâu đối với người bản địa Tây Nguyên như là một người bạn, nó không phải để cày bừa, kéo gỗ hay làm những công việc nặng nhọc, mà lại được chăm sóc cho béo tốt để đến mùa lễ hội đem ra cúng tế thần linh hoặc dùng cho những cuộc thách cưới bên nhà trai với bên nhà gái. Cũng chính vì vậy, mà ngƣời Kinh với truyền thống canh tác lúa nước, với suy nghĩ “con trâu là đầu cơ nghiệp” xem đây là sự phung phí, và ngay cả những vị lãnh đạo vì không hiểu hết văn hóa của Tây Nguyên tìm cách ngăn trở, cố tình muốn bỏ đi những tập tục tồn tại lâu nay trên vùng Tây Nguyên họ muốn đồng hóa văn hóa Tây Nguyên sao cho thật giống văn hóa của người Kinh. Đó cũng là một phần nguyên nhân của lối tư duy không biết chấp nhận sự khác biệt, hễ cái gì khác ta là bị triệt tiêu của người Kinh. Sự khác nhau giữa người Tây Nguyên và người Kinh còn về khái niệm giàu-nghèo. Đối với người Kinh, giàu là tích tụ được nhiều tài sản, vật chất nhưng riêng với người Tây Nguyên thì khác hẵn. Giàu đối với họ là sự cho đi. Một người được xem là giàu trong buôn làng là có nhiều ché rượu cần, có nhiều trâu để hiến tế. Một người muốn được mọi người trong buôn làng xem là giàu thì họ phải đãi cả làng một bữa tiệc dài 3 ngày 3 đêm. Ngoài ra, việc phát động “bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống văn hóa mới” vô tình đã đẩy đức tin và đời sống tâm linh ra khỏi cuộc sống xã hội. Trong khi các viên chức của chính quyền Việt Nam nói thì nhiều nhưng chẳng làm được bao nhiêu, dẫn đến việc “nghe lời Đảng thì cái tai mình nó no nhưng cái bụng mình nó đói” cộng thêm cái lối áp đặt trong hành xử làm cho người Tây Nguyên cảm thấy bị coi khinh, mãnh đất tâm linh bị hụt hẫng. Từ đó, làm cho nền tảng đạo đức của người dân Tây Nguyên dễ bị băng hoại. Chính những sự khác biệt này dẫn đến sự xung đột về văn hóa khi có sự trà trộn giữa người Tây Nguyên và người Kinh. Việc chưa hiểu thấu đáo văn hóa Tây Nguyên, xem đó như là một thứ văn hóa còn mang tính man dại cần được khai sáng đã không những làm cho truyền thống văn hóa từ ngàn đời ở Tây Nguyên mất đi mà vô tình còn đào sâu thêm hố sâu ngăn cách giữa người Tây Nguyên và người Kinh. Vấn đề về nhân quyền ở Tây Nguyên. Đây là một vấn đề hết sức bức bối đối với Tây Nguyên. Báo chí trong nước ít khi nói đến hoặc có nói cũng chỉ nói theo chiều hướng có lợi cho chính quyền. Họ dường như để mặc cho những điều bất cập, trái khuấy, sai trái đang diễn ra từng ngày, từng giờ ở Tây Nguyên. Bên cạnh đó, với tư duy kỳ thị, coi phong tục, tập quán và những lễ nghi của người bản xứ ở đây là mọi rợ, man di nên đã dần dần đồng hóa người Tây Nguyên với văn hóa người Kinh. Điều này đã làm mất dần những sắc thái văn hóa riêng của tộc người Tây Nguyên. Mà hiện nay từ “Kinh hóa” là thứ mà ta vẫn thường xuyên được nghe đến khi nói về Tây Nguyên. Trong những buôn làng thì lực lượng an ninh là người Kinh, họ sẵn sàng ra tay đàn áp, bắt bớ cũng như là bao che cho những người cùng giòng giống với mình. An ninh học ngôn ngữ của người Tây Nguyên để dễ dàng gần gũi quan sát các động tĩnh trong những buôn làng. Từ sau 1975, sau khi Tây Nguyên lọt vào tay của những người Cộng Sản, rất nhiều mục sư là người Tây Nguyên bản xứ đã bị chính quyền Cộng Sản bức hại, giam giữ trong các nhà tù, bắt phải đi học trong các trại cải tạo. Nhiều người trong số đó đã bị chết vì bệnh tật. Tự do tín ngưỡng ở Tây Nguyên đang bị cảnh báo. Qua các thông tin đại chúng ta có thể biết được các mục su Tin Lành thường xuyên bị đánh đạp, bắt bớ, đàn áp, khủng bố về tinh thần. Ngoài ra, bộ phận công an cố gắng tìm cách ngăn chặn người Tây Nguyên gia nhập vào đạo Tin Lành. Mức sống hiện nay của người Tây Nguyên quá thấp so với người Kinh. Lợi tức bình quân đầu người hiện nay của người Tây Nguyên chỉ khoảng hơn 50USD/năm. Cái đói là những thứ mà người Tây Nguyên đang phải đối trọi hằng ngày. Những khuôn mặt đờ đẫn, ốm yếu, thể chất yếu đuối do đói ăn đang hiện diện trong từng buôn làng. Ở những vùng sâu, người Tây Nguyên phải vào rừng để đào củ rừng, bắt côn trùng cho đở đói. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ đã không còn lạ lẫm với những người Tây Nguyên (mà họ quen gọi là người Thượng), vì lực lượng lao động từ Tây Nguyên tha phương cầu thực khá nhiều, họ xuống các vùng duyên hải để làm thuê cho trên những chiếc thuyền đánh cá, một công việc rất đổi xa lạ đối với người Tây Nguyên vốn chỉ quen với rừng núi. Trước đây, không có nạn ăn xin là người Tây Nguyên nhưng bây giờ số lượng người ăn xin Tây Nguyên khá nhiều, họ ăn xin ngay trong buôn làng của họ. Việc ăn xin này tuy chỉ phổ biến trong những buôn làng được kinh doanh hoạt động du lịch, thế nhưng nó cũng phản ánh phần nào sự thiếu hụt về lương thực của người Tây Nguyên. Trong hơn nữa thế kỷ chung sống với người Kinh, họ đã bị người Kinh xem như là thứ dân hạng hai, nhân phẩm bị chà đạp, danh dự bị khinh bỉ, tập tục sinh sống bị xem là của “người Nguyên Thủy”. Người Tây Nguyên sử dụng mọi biện pháp từ bạo động đến chính trị ôn hòa, chỉ cốt mong sao có chỗ đứng, có tiếng nói, được chấp nhận trên mãnh đất mà từ ngàn đời là của mình, nhưng sự áp đảo về số lượng khiến tiếng nói của họ trở thành thiểu số, nhận được sự quyết tâm đàn áp của chính quyền người Kinh. Ta dễ dàng nhận thấy được sự khinh miệt của người Kinh trong quan hệ thường ngày. Trong trạm xá, bệnh viện, người Kinh không xếp chung hàng với người bản xứ, trẻ em, thanh niên người Kinh không chơi với trẻ em, thanh niên người Tây Nguyên. Và tệ hơn, trong các cơ quan nhà nước, những viên chức chế giễu, miệt thị, đùa cợt sự ngây ngô của người Tây Nguyên khi họ đến những cơ quan này xin giấy tờ. Và điều miệt thị này còn được thể hiện trong văn bản hành chính, ngay danh xưng “người dân tộc” nó cũng đã hàm chứa sự lỗ mãn, bất kính. Sau khi nổ ra những cuộc xuống đường rầm rộ ở Tây Nguyên, chính quyền Việt Nam đã thắt chặt các biện pháp quản lý nhằm cũng cố an ninh quốc phòng. Những tỉnh thành lân cận với Tây Nguyên được đặt vào tình trạng báo động. Cửa ngỏ ra vào Tây Nguyên bị chặn xét, rừng quốc gia Yok Đôn bị cấm ra vào. Các con đường quốc lộ nối đồng bằng với Tây Nguyên được đặt thêm nhiều trạm kiểm soát, quân đội được điều động lên đây với quân số nhiều hơn. Họ ngăn chặn người Tây Nguyên tiếp xúc với các mục sư, với những người nước ngoài. Và trong những ngày lễ của Tin Lành như Phục Sinh, Giáng Sinh cơ quan An Ninh cố gắng không để cho người Tây Nguyên tập trung về nhà thờ để làm lễ… Trong một đất nước với đông đảo các sắc tộc, ngôn ngữ khác nhau, việc đòi hỏi bình đẳng giữa các tộc người là điều cần được tuyệt đối thực thi để tránh sự bất công trong xã hội. Trong các văn bản của chính quyền Việt Nam luôn luôn xem trọng quyền con ngƣời, nhưng khi để nó đi vào thực tiển thì cách xa nhau một trời một vực. Bải bỏ ngay những rào cản về tôn giáo mà chính quyền lâu nay vẫn cố gắng áp đặt tại Tây Nguyên, bải bỏ ngay sự kiểm soát chặt chẽ đối với người Tây Nguyên vì đó là vi phạm nhân quyền. Cần tìm hiểu kỹ hơn về văn hóa Tây Nguyên để có thể có được một chính sách hòa hợp dân tộc cũng như về văn hóa Tây Nguyên và văn hóa của người Kinh. Cần chú trọng quan tâm đến người Tây Nguyên, trả lại cho họ những mãnh đất đã bị sáp nhập vào các nông trường quốc doanh để họ có nơi canh tác, thờ cúng tổ tiên. Cần có một chính sách rõ ràng hơn, mang tính nhân bản hơn để có thể chung sống hòa đồng giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Có như thế chúng ta mới có thể phát triển xã hội bình đẳng giữa người và người. Hoàng Anh © Tạp chí Phía Trước _________ Trong bài viết có sử dụng một số tài liệu của nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi, nhà văn Nguyên Ngọc, của Tiến Sỹ Nguyễn Văn Huy, của phó giáo sư tiến sỹ Ngô Văn Doanh. ****************************** CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC SỐ 19 (THÁNG12/2008): HÀNG HÓA TẬP THỂ Phút suy tư không đề...! Nhìn thẳng vào sự thật. Tư tưởng nhân quyền đầu thế kỷ XX Tạp Chí Phía Trước số 19 DOWNLOAD TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC SỐ 19 (THÁNG 12/2008) LỊCH NĂM 2009 CỦA PHÍA TRƯỚC. ***************************** CÁC BÀI VIẾT HAY PHÍA TRƯỚC GIỚI THIỆU: Phỏng vấn bác Bùi Tín & Audio book "Tâm tình với tuổi trẻ". Download Chương 1 & 2 Audio Book "Tâm Tình với Tuổi Trẻ" của bác Bùi Tín [OSIN'S BLOG] 30 Năm Trước, Tự Sự Của Một Người Từng Là Lính
-
(Sat, 03 Jan 2009 16:21:53 GMT)
(Xin được dịch là hàng hóa cá nhân, vì nếu dịch là hàng hóa tư nhân sẽ làm bạn đọc nhầm tưởng đây là hàng hóa thuộc sở hữu tư nhân. Chuyện sở hữu chẳng có liên quan gì ở đây.) Hàng hóa tập thể (collective goods) là một trong số những chủ đề gây đau đầu các nhà kinh tế học nhiều nhất trong vòng 50 năm qua. Không đơn giản chỉ vì là một trong các nguyên nhân gây nên thất bại thị trường (market failures), việc sản xuất hàng hóa tập thể còn dấy lên vô số câu hỏi về vai trò quản lý kinh tế của chính phủ, đặc biệt là hiệu quả các chính sách đầu tư và chính sách thuế của nhà nước. Nếu như việc cung cấp hàng hóa tập thể thể hiện sự quan tâm của nhà nước tới ngƣời dân, nó cũng đồng thời sinh ra vô số mâu thuẫn giữa những “người tiêu dùng”: mẫu thuẫn về đóng góp xây dựng, mâu thuẫn về bình đẳng sử dụng, thậm chí mâu thuẫn về quyết định sản xuất. Bài viết này sẽ trình bày những thuộc tính kinh tế cơ bản nhất của hàng hóa tập thể, ngõ hầu đem đến cho bạn đọc một cái nhìn hệ thống về một hiện tượng kinh tế mà chúng ta vẫn gặp hàng ngày. Hàng hóa tập thể trước hết là một hàng hóa được tiêu dùng bởi một tập thể, tức là được dùng chung bởi ít nhất…2 người. Khái niệm hàng hóa tập thể ra đời sau khái niệm hàng hóa cá nhân (private goods). Kinh tế học cổ điển chỉ biết đến hàng hóa cá nhân và các mô hình cổ điển chỉ nghiên cứu hàng hóa cá nhân. Doanh nghiệp trong các cuốn sách kinh tế học cổ điển sản xuất để bán cho trước hết “một” người tiêu dùng, còn người tiêu dùng trong sách thì đi mua trƣớc hết “một” sản phẩm. Thế nhưng chỉ cần chúng ta mở mắt ra nhìn cuộc sống xung quanh thì sẽ thấy có vô số các trường hợp mà câu chuyện “một người - một sản phẩm” không phải lúc nào cũng có thể xảy ra. Trong rất nhiều trƣờng hợp, nhiều người cùng phải sử dụng chung một hàng hóa (joint collective consumption). Thế này nhé: bạn đi thăm viện bảo tàng, bạn thấy có vô số người trong viện bảo tàng. Bạn tự hỏi người đâu ra mà lắm thế ? Hơ, bởi vì viện bảo tàng là một hàng hóa tập thể. Người ta không thể trưng bày một phòng bảo tàng cho duy nhất một người đến thăm, cũng không thể giới hạn số người vào xem được. Viện bảo tàng phải mở cửa cho tất cả những người đã mua vé. Một ví dụ khác, bạn lái xe trên đường. Một tay lái xe rất ẩu xuýt nữa gây tai nạn cho bạn. Bạn có thể chửi “thằng mất dạy” không tôn trọng luật giao thông, nhưng nhìn từ quan điểm kinh tế học, “thằng mất dạy” kia cũng …giống hệt như bạn. Cả hai người đều đang “xài” quyền tiêu dùng một hàng hóa tập thể là con đường dưới chân bạn. Có thể tay kia đang xài… quá nhu cầu cần thiết, còn bạn thì xài vừa đủ, thế nhưng có ai cấm bạn xài nhiều hơn và xài khác kiểu đi đâu ? Còn vô số các ví dụ khác có thể lấy ra, và chúng tôi sẽ lần lượt trình bày dưới đây. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh là hàng hóa tập thể không dính dáng gì đến vấn đề sở hữu. Trong ví dụ viện bảo tàng, hay con đường, bạn có thể nghĩ rằng vấn đề bắt nguồn từ sở hữu nhà nước, hay sở hữu chung, nhưng thực ra cho dù viện bảo tàng hay đường xá có là sở hữu tư nhân thì vấn đề cũng không vì thế mà thay đổi. Mọi khúc mắc nằm ở việc “sử dụng tập thể”, và chỉ ở đó mà thôi. Để có thể dễ tưởng tượng, hãy nghĩ đến một chiếc bể bơi tư nhân mà bạn phải trả rất nhiều tiền để vào bơi. Trừ khi bạn bỏ tiền thuê trọn gói như kiểu một ông hoàng A-rập, hay như các nguyên thủ quốc gia, còn nếu không bạn cũng sẽ vẫn phải đối đầu với câu chuyện hàng hóa tập thể. Đương nhiên nếu chủ sở hữu là tư nhân thì anh ta sẽ tìm mọi cách để khắc phục vấn đề, nhưng đấy lại là chuyện xảy ra sau đó. Khái niệm về hàng hóa tập thể được trình bày rõ ràng nhất lần đầu trong một bài báo của Paul Samuelson viết năm 1954. Trong vỏn vẹn 4 trang Samuelson chứng minh rằng thị trường thất bại trong việc phân bổ hiệu quả các nguồn tài nguyên để sản xuất hàng hóa tập thể. Trong bài báo này, Samuelson không gọi hàng hóa là tập thể mà gọi là công cộng (public goods) Theo Samuelson, hàng hóa công cộng có hai thuộc tính cơ bản là tính tiêu dùng không đối đầu (non-rivalry) và tính tiêu dùng không loại trừ (non-excludability) . Tiêu dùng không đối đầu, có nghĩa là những người tiêu dùng không bị đặt vào tính huống đối đầu nhau khi cùng sử dụng một hàng hóa: tiêu dùng của người này không làm giảm tiêu dùng của người kia. Nếu bạn tiêu dùng một hàng hóa cá nhân, một bộ quần áo mới hợp mốt chẳng hạn, việc đối đầu trong tiêu dùng rất rõ ràng. Số bộ quần áo hợp thời trang là có hạn, cho nên mọi người cùng đổ xô đi mua ngay khi catalogue mới được đưa ra chào hàng. Một bộ quần áo đã bán cho A cũng đồng nghĩa với một bộ quần áo ít đi trong tập hợp lựa chọn của B. A và B sẽ rơi vào thế đối đầu nhau, vì tiêu thụ của người này sẽ loại trừ tiêu thụ của ngƣời kia. Hàng hóa công cộng không gây nên tình trạng này. Hai người đi dạo trong công viên đều hưởng thụ hết mức thuộc tính không đối đầu của hàng hóa công cộng. Không phải vì có thêm một người vào công viên mà những người đang ở trong công viên sẽ hưởng thụ ít hơn. Tiêu dùng không loại trừ, có nghĩa là tiêu dùng của người này không ngăn cản tiêu dùng của người khác. Những người đang tiêu dùng không thể cấm những người chưa tiêu dùng xài hàng hóa như mình. Trong ví dụ công viên, những người ở trong công viên không thể cấm người khác đang đi vào công viên với lý do rằng công viên này đang thuộc quyền sử dụng của những người đến trước. Bản chất kinh tế của hàng hóa công cộng là chi phí sản xuất vô cùng lớn (để phục vụ nhiều người) nhưng một khi sản xuất xong, chi phí để chấp nhận thêm một người sử dụng mới là 0. An ninh là một ví dụ. An ninh trước hết là một dịch vụ xuất phát từ nhu cầu được bảo vệ an toàn của công dân. Bởi vì rất nhiều người có nhu cầu này nên nhà nước buộc phải đáp ứng bằng cách sản xuất một “đội ngũ chuyên cung cấp dịch vụ” là công an. Mỗi khi có vấn đề dân sự, bạn gọi công an không phải vì bạn là người tuân thủ pháp luật, đơn giản là vì bạn sợ rằng nếu không có công an thì hậu quả của xung đột có thể ảnh hưởng đến an toàn hoặc uy tín của chính bạn. Bằng chứng là trong rất nhiều trường hợp mâu thuẫn, nếu tự tin có thể giải quyết ổn thỏa thì chẳng ai gọi công an làm gì. Mặt khác, một số người có điều kiện và không thỏa mãn với “dịch vụ” của nhà nước rất có thể sẽ thích dùng dịch vụ tư nhân hơn (bảo hiểm, vệ sỹ riêng). Đương nhiên, nếu bàn đến cùng thì an ninh quả là một ví dụ sẽ gây rất nhiều tranh cãi, nhất là khi công an có một số đặc quyền vượt quá nhiệm vụ bảo đảm an toàn công dân (sic), nên chăng lấy một ví dụ khác là giáo dục. Các trường đại học nhà nước được mở ra là để đáp ứng “nhu cầu đi học” của người dân. Ai cũng có quyền đi học, nhưng không ai bị ép đi học trường công, nếu bản thân họ đã lựa chọn một trường tư mà họ đánh giá là phù hợp với nhu cầu hơn (chất lượng, môi trường học …). Quay lại với bản chất kinh tế của hàng hóa công cộng, hiện tượng “chi phí sản xuất vô cùng lớn, nhưng chi phí để chấp nhận thêm một người sử dụng mới bằng 0" là cực kỳ rõ nét trong cả 2 trường hợp an ninh và giáo dục. Chi phí để sản xuất dịch vụ an ninh hoặc giáo dục là những khoản chi vô cùng lớn trong ngân sách quốc gia. Tại một nước như nước Cộng hòa Pháp chẳng hạn, chi phí cho giáo dục đứng đầu bảng, chiếm hơn 50% chi tiêu của chính phủ, chi phí cho an ninh tuy thấp hơn nhiều nhưng cũng là một khoản chi rất đáng kể. Một khi hàng hóa được sản xuất rồi, việc có thêm một “người tiêu dùng” hầu như chẳng làm nhà nước tốn thêm một xu. Không phải vì có thêm một em bé mới sinh ra, mà nhà nước phải chi thêm tiền để cung cấp thêm hai dịch vụ an ninh và giáo dục. Bây giờ chúng ta sẽ cùng xem vì sao việc sản xuất hàng hóa công cộng, hay hàng hóa tập thể lại là một vấn đề. Vấn nạn đầu tiên của việc sản xuất hàng hóa công cộng, xin được tạm gọi là vấn nạn “người lậu vé”, dịch từ tiếng Anh: free-rider. Một người sử dụng phương tiện giao thông công cộng, như tàu hỏa, ôtô buýt, hoặc tàu điện ngầm thường tìm cách trốn vé, bởi vì một chiếc tàu chở thêm một người lậu vé có tốn thêm một đồng chi phí nào đâu. Dù chỉ có một hoặc hai hành khách thì đến giờ tàu vẫn chạy kia mà. Động cơ free-rider rất phổ biến tại bất cứ trường hợp sử dụng hàng hóa tập thể nào. Bạn đọc xin phân biệt chuyện lậu vé - vốn bắt nguồn từ động cơ free-rider, và chuyện mua vé vì sợ bị phạt. Free-rider là việc không tự giác đóng góp khi sử dụng hàng hóa tập thể, và bởi vì có quá nhiều người lậu vé nên công ty kinh doanh tàu mới phải phạt để hạn chế lậu vé. Nói bằng ngôn ngữ kinh tế học, free-rider sử dụng dịch vụ tập thể như một người sử dụng bình thường, nhưng bắt người khác phải trả chi phí đóng góp xây dựng. Còn nói nôm na thì free-rider là người “dùng đồ chùa”. Free-rider thật sự là một hiện tượng kinh tế không thể bỏ qua bởi vì nếu tất cả người sử dụng đều là free-rider thì ai sẽ là người đóng góp sản xuất ? Khổ nỗi nó gần như ăn vào bản tính con người. Nếu bạn không tin, chỉ cần đi ra chợ trời mua băng đĩa lậu thì sẽ biết. Một đĩa DVD dữ liệu hoặc phim ảnh (tuy không phải hàng hóa tập thể nhưng chia sẻ thuộc tính kinh tế này với hàng hóa tập thể) có chi phí sản xuất vô cùng lớn. Trong khi đấy, chi phí để cho thêm một người sử dụng những thông tin trên DVD là vô cùng nhỏ (chỉ tốn thêm một đĩa DVD mới để copy), kết quả là có những thị trường hầu như chẳng có một người mua đàng hoàng: tất cả đều là free-rider ngoài chợ trời. Ngay tại các quốc gia văn minh phát triển, free-rider cũng có đầy dãy. Trong phòng họp của chúng tôi có đặt một hộp tiền để những người từ nơi khác đến uống càphê có thể đóng góp theo hảo tâm. Cái hộp thường xuyên trống rỗng, không phải vì mọi người không có hảo tâm, mà chắc vì hảo tâm không mạnh bằng động cơ free-rider. Nhìn từ góc độ ngƣời sản xuất, nhất là trong trường hợp nhà nước cung cấp dịch vụ công cộng, free-rider thực sự là một vấn đề nhức nhối. Nếu nhà nước cung cấp dịch vụ miễn phí thì chắc chắn là sẽ thiệt hại nặng nề, vì ngƣời dân sẽ sử dụng vô tội vạ (sử dụng chung mà). Huống hồ nhà nước đào đâu ra tiền để đầu tư vào sản xuất nếu không thu phí. Đương nhiên nhà nước có cách thu khác: nhà nước thu thuế. Thuế về mặt bản chất là một khoản thu trước, để có vốn xây dựng và bảo dưỡng các dịch vụ công cộng như an ninh, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, xây đường xá…vv…Tuy nhiên nếu thu thuế thì lại đẻ ra một vấn đề nữa là “bất bình đẳng” trong đóng góp. Nếu bạn mua một hàng hóa tư nhân, bạn trả tiền tương ứng với nhu cầu thật sự của bạn. Còn nếu bắt bạn đóng thuế, làm sao biết được khoản đóng góp này có tương ứng với nhu cầu thật của bạn hay không? Hãy lấy một ví dụ là giao thông công cộng, để hiểu vì sao có những lúc thu thuế là một giải pháp rất dở nhìn từ kinh tế học. Giả sử nhà nước muốn cung cấp một tuyến tàu vành đai để giúp người dân di chuyển dễ dàng hơn trong thành phố, hoặc vòng quanh một sân bay (tàu điện ngầm ở Hồng Kông chẳng hạn). Nhà nước tuyên bố tuyến tàu này là miễn phí cho mọi người dân. Dân chúng đương nhiên là hài lòng vì được đi tàu mà không phải trả tiền (sic). Họ sẽ bớt hài lòng đi nhiều nếu biết rằng để có kinh phí, nhà nước đã nhẹ nhàng sửa vài con số trong mức thuế. Chỉ sửa đổi chút đỉnh vài con số đứng sau dấu phẩy, nhà nước đã tăng thêm một khoản thu tƣơng ứng với…thuế xây dựng cơ sở hạ tầng…mà chẳng ai phàn nàn cả. Một việc làm rất logic, nhưng hậu quả như sau: hai người sử dụng với tần suất khác nhau rất có thể sẽ phải đóng cùng một khoản thuế. Người sử dụng thường xuyên hàng ngày sẽ hưởng lợi rất nhiều. Ngược lại, người họa hoằn sử dụng một, hai lần mỗi tháng sẽ bị thiệt hại to lớn. Đóng thuế trong trường hợp này cũng giống như đi mua hàng mà phải trả một số tiền chẳng tương ứng chút xíu nào với cái mình trông đợi cả. Trong rất nhiều trường hợp, nhà nước có thể lạm quyền đặt ra mức thuế, và ngƣời dân cứ đóng mà chẳng bao giờ thắc mắc xem đóng như thế là quá nhiều (hay quá ít) so với dịch vụ mà mình sử dụng. Nhà nước có thể làm việc này, nhà kinh tế học không thể. Nhà nước cũng có thể đặt ra mức phí để bắt người tiêu dùng trả theo mức sử dụng thật sự. Tuy nhiên việc này phụ thuộc vào bản chất của hàng hóa. Có những hàng hóa mà ta không thể biết được mức độ sử dụng thật của mỗi cá nhân là bao nhiêu. Đây là vấn nạn thứ hai của hàng hóa tập thể, tạm gọi là “không tiết lộ lựa chọn”, dịch từ tiếng Anh: non-revealed preference. Khi chính phủ muốn xây dựng một công trình công cộng, hay một tập thể muốn đầu tư cho một hàng hóa tập thể, người ta tìm cách đặt câu hỏi xem có bao nhiêu ngƣời sẽ sử dụng? và mỗi ngƣời sẽ sử dụng bao nhiêu (nếu bản chất hàng hóa cho phép)? để thu phí. Tuy nhiên vì ngƣời trả lời đã có sẵn động cơ free-rider nên anh ta thường sẽ trả lời ít hơn so với sự thật, để sau này hy vọng sẽ “dùng chùa” kiếm lời. Hoặc giả anh ta ước lượng sai nhu cầu của mình, hoặc giả sau này thất vọng vì chất lượng hàng hóa nên anh ta giảm hẳn việc sử dụng. Chẳng có gì trừng phạt anh ta vì đã không ước lượng chính xác nhu cầu của mình cả. Ngƣời sản xuất do đó sẽ thu được một tập hợp câu trả lời sai, dẫn đến việc đưa ra quyết định sản xuất sai lầm. Hãy tưởng tượng một thành phố khảo sát để xây dựng một khu giải trí công cộng nhằm nâng cao điều kiện sống cho người dân. Sau khi xây xong thường xuyên chẳng có ai vào, vì dịch vụ thấp hơn so với những gì họ đã tưởng tượng. Vậy là một quỹ đất lớn đã bị lãng phí. Trong trường hợp ngược lại, khu giải trí lúc nào cũng chật cứng vì có quá nhiều người có nhu cầu sử dụng, những người đã trả lời “Không” khi được khảo sát. Khu giải trí mà đông chen chúc nhau thì chẳng ai lại thỏa mãn cả, cũng là một quỹ đất bị lãng phí. Giả sử thành phố định điều chỉnh diện tích bằng cách nới rộng quy hoạch, nhưng lần này có quá nhiều người đã thất vọng với khu giải trí trước nên họ bỏ ngoài tai ý tưởng này. Kết quả là đến lần mở cửa thứ hai lại có quá ít người vào, chưa kể đến chuyện người ta có thể từ chối việc mua vé vì chẳng ai lại đi trả tiền cho một dịch vụ mà họ không thỏa mãn cả. Như vậy có thể thấy cả giải pháp đóng phí và đóng thuế đều chứa những khiếm khuyết trong việc xác định chính xác quy mô sản xuất. Đóng thuế thật ra là trả tiền trước, còn đóng phí là trả tiền cùng lúc với việc sử dụng. Dù đóng thuế hay đóng phí, cả hai động cơ free-rider và non-revealed preference đều sẽ hoạt động hết công suất. Vấn đề sẽ không tồn tại nếu thế giới này chỉ có toàn hàng hóa cá nhân. Đối với hàng hóa cá nhân, thị trường sẽ là nơi quyết định sản xuất gì? như thế nào? và với số lượng bao nhiêu? Giá cả sẽ là tín hiệu chính xác nhất để người mua và người bán đọc thông tin từ hai phía. Không thể có free-rider vì ai muốn sử dụng phải trả tiền, không thể không trả tiền mà lại được sử dụng. Cũng không thể có non-revealed preference, tất cả đều là revealed preference. Mua hàng tức là lựa chọn, không mua hàng cũng là lựa chọn, trong cả hai trường hợp lựa chọn đều được tiết lộ, và thông tin này sẽ được nhà sản xuất xử lý để đưa ra quyết định đúng đắn. Tiếc thay đây lại không phải là thế giới mà chúng ta đang sống. Quyết định thiếu chính xác trong việc sản xuất dẫn đến việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn tài nguyên. Bàn tay vô hình của thị trường vậy là đã thất bại trong việc nắm bắt hàng hóa tập thể. Như đã nói, hai vấn đề của hàng hóa tập thể đã làm đau đầu vô số nhà kinh tế học từ hơn 50 năm qua. Rất nhiều mô hình giải pháp đã được đưa ra như khuyến khích, trừng phạt, giáo dục, ước tính bằng thống kê…vv…Nhìn chung các giải pháp đều hướng đến việc đưa cơ chế thị trường vào trong tiêu dùng, đưa cạnh tranh vào trong sản xuất. Thị trường bị coi là thất bại, vẫn liên tục thử chinh phục lại mảnh đất đã lọt vào tay kẻ khác (quản lý tập thể, quản lý chính phủ). Tuy nhiên phần còn lại của bài viết sẽ không tập trung vào các giải pháp, mà sẽ cố gắng giới thiệu đến các bạn đến lý thuyết tổng quan về hàng hóa tập thể. Như các bạn có thể thấy, phần trên của bài viết hướng đến rất nhiều hàng hóa công cộng thuộc thẩm quyền quản lý của nhà nước. Các thuộc tính của hàng hóa công cộng, như tiêu dùng không đối đầu và không loại trừ, thực ra chỉ đúng trong một phạm vi giới hạn nhất định. Khi một công viên chật cứng người, tiêu dùng của người này rõ ràng làm giảm tiêu dùng của người khác, và những người ở trong công viên hoàn toàn có thể nói với những người ở ngoài đừng đi vào vì lợi ích chung của tất cả. Ngoài ra, còn rất nhiều trường hợp mà tập thể tiêu dùng hàng hóa chỉ là một nhóm người (xe buýt chẳng hạn). Việc này khác xa rất nhiều so với trường hợp cả xã hội cùng sử dụng dịch vụ y tế hay giáo dục. James Buchanan đã sớm nhận ra điều này, và năm 1965 ông cho ra đời lý thuyết tổng quan về hàng hóa tập thể, còn được gọi tên khác là lý thuyết câu lạc bộ (theory of club). Buchanan phê phán tính hạn hẹp của khái niệm hàng hóa công cộng của Samuelson. Ông cho rằng hàng hóa công cộng chỉ là một trường hợp đặc biệt không phải lúc nào cũng xảy ra. Giữa một hàng hóa thật sự công cộng và một hàng hóa thật sự cá nhân, có vô số trường hợp trung gian mà kinh tế học chưa hề đả động đến. Buchanan gọi chung tất cả các hàng hóa này là tập thể, và gắn liền đặc tính của hàng hóa với tập thể người tiêu dùng. Khi tập thể chỉ có một thành viên: hàng hóa trở thành cá nhân. Khi tập thể phình to ra bằng cả xã hội, hàng hóa trở thành công cộng. Giữa hai trạng thái này, số người sử dụng hàng hóa có thể thay đổi biến thiên, và do đó cần phải có các cơ chế xã hội cho phép sự thành lập các hội, đoàn, câu lạc bộ, các tập thể xã hội tương ứng, nhằm khai thác tối ưu ích dụng của hàng hóa. Sau đây là ví dụ cuối cùng, có lẽ sẽ khá hữu ích với rất nhiều ngƣời. Giả sử có một nhà đầu tư mua một lô đất để xây một khu chung cư. Sau khi xây xong ông ta bán lại mỗi căn hộ cho một người sử dụng. Vậy là mỗi căn hộ sẽ biến thành một hàng hóa cá nhân. Tuy nhiên vẫn còn những thứ không chịu biến thành cá nhân: đó là hành lang, cầu thang, cầu thang máy, parking…thậm chí, mặt tiền, mặt hậu, nóc nhà, hệ thống điện, hệ thống nước và thoát nước, hệ thống gaz…vv… Mỗi khi có chuyện gì xảy ra, tất cả tập thể chung cư sẽ phải họp và phân bổ chi phí. Có rất nhiều chung cư phó mặc cho một công ty quản lý riêng, điều đó không có nghĩa là mỗi người chủ đã từ bỏ quyền làm chủ một phần chung cư của mình. Họ vẫn nộp phí như thường. Đương nhiên trong trường hợp này bạn có thể nói đây là sở hữu tập thể, không phải là sử dụng tập thể. Nếu vậy thay vì bán, để hiểu Bu-chanan dễ dàng hơn, ta có thể tạm giả thiết là nhà đầu tư cho thuê từng căn hộ. Sau khi cho thuê, khu chung cư sẽ biến thành một hàng hóa tập thể. Buchanan cho rằng, giữa khả năng phục vụ của hàng hóa (collective goods size) và quy mô của tập thể (club size) có một mối liên hệ tối ưu. Người ta sẽ tham gia đóng góp vào tập thể, nếu ích lợi mà họ rút ra từ tập thể lớn hơn khoản yêu cầu đóng góp. Quy mô của tập thể sẽ tự động phình ra cho đến thời điểm mà người sử dụng cảm thấy không còn ích lợi gì khi đóng góp vào tập thể nữa. Quy mô như vậy sẽ là tối ưu. Nếu tập thể tiếp tục nhận thêm người sử dụng vượt quá quy mô tối ưu, mỗi người sẽ được hưởng ít hơn cái mà họ đóng góp. Sẽ có một số người tự động ra đi và kết quả là quy mô sẽ lại trở về tình trạng tối ưu. Trong ví dụ chung cư cho thuê, giả sử cần có một công trình sửa sang cầu thang máy. Chủ đầu tư có một cách duy nhất là đưa chi phí này vào trong chi phí chung cư, rồi sau đó phân bổ đến từng người sử dụng. Nếu có quá nhiều người dùng thang máy (vượt quá mức tối ưu), thang máy sẽ cần phải được bảo trì nhiều hơn, sẽ có một số người rất bực mình vì họ đóng góp thƣờng xuyên mà sử dụng lại quá ít, do thang máy luôn hỏng. Lý thuyết của Bu-chanan chỉ ra rằng đã đến lúc người sử dụng bỏ tập thể này để đi tìm một tập thể khác cho phép sử dụng tối ưu hơn. Quy mô tập thể cũ do đó cũng giảm đi để trở về tối ưu. Trong cuộc sống thật, không phải ai cũng chuyển nhà vì phải đóng tiền cho thang máy: chuyển nhà cũng là một việc rất tốn kém. Tuy nhiên hãy thử nghĩ xem nếu hôm nay hỏng đường điện, ngày mai hỏng đường nước, ngày kia sửa sang mặt tiền, tháng sau nâng cấp mặt hậu…có lẽ chuyện nghĩ đến một căn hộ mới cũng là một chuyện không xa. Vậy là Buchanan đã giải quyết bài toán quyết định sản xuất tối ưu hàng hóa tập thể… trên lý thuyết. Ông cho rằng, không cần nhất thiết đặt ra câu hỏi quy mô sản xuất thế nào là tối ưu? Bất kỳ quy mô nào cũng sẽ là tối ưu, nếu để cho người sử dụng được tự do lựa chọn đi hay ở. Hãy để cho các tập thể tự "cạnh tranh" và người sử dụng được "tự do lựa chọn", tối ưu kinh tế sẽ tự đến. Do đó tập thể của Buchanan là các câu lạc bộ - club, nơi mà ta có thể tự do đến đăng ký tham gia, và tự do ra đi khi không còn hứng thú. Ta có thể thấy là dù còn mang những hạn chế, mô hình này giải quyết một khúc mắc tư tưởng vô cùng lớn với các nhà kinh tế học. Cuộc sống thật đương nhiên phức tạp hơn cuộc sống lý thuyết rất nhiều: không phải bất cứ tập thể nào cũng là một câu lạc bộ nơi các thành viên tự do đến và tự do đi; nhất là khi khu chung cư mang tên "Quốc gia", người sử dụng mang tên "Công dân", ban quản lý chung cư mang tên "Chính phủ", và các khoản chi phí đóng góp mang tên "Thuế". Nhưng điều này không ngăn cản con người tiếp tục tư duy và hành động để tiến về một chân trời mới nơi lợi ích và hạnh phúc cá nhân trong sự tôn trọng lẫn nhau phải được đặt lên hàng đầu. Đông A © Tạp chí Phía Trước Tài liệu tham khảo Buchanan James M., An economic theory of club, Economica, New series, Vol.32, No.125, Feb, 1965, 14 pages. Samuelson Paul, The pure theory of Public Expenditure, Review of Economics and Statistics, Vol.36, Nov.1954, pp 387 – 389 Tiebout Charles, A pure theory of local expenditures, Journal of Political Economy No. 64 October 1956, pp 416-424. Wolfensperger Alain, Economie publique, Ed. Presse Universitai-re de France, 1995, 490 pages
-
(Fri, 26 Dec 2008 12:02:57 GMT)
Chào các bạn, Mời càc bạn nghe audio Phỏng vấn Bác Bùi Tín nhân dịp phát hành quyển audio book "Tâm tình với tuổi trẻ" do các thành viên THTNDC đọc. Cuộc nói chuyện có nội dung xung quanh quyển sách này cũng như những tâm sự, tâm tình "live" của bác Bùi Tín đối với các thành viên của THTNDC nói riêng và thanh niên nói chung. Bạn có thể nghe thấy trong cuộc nói chuyện này, những tâm tư của bác đối với nghề làm báo, về các vấn nạn tham nhũng cũng như vấn đề nhân quyền và tự do ở Việt Nam. Bạn cũng sẽ cảm nhận được ngọn lửa và khát vọng về một Việt Nam tốt đẹp hơn đang cháy ngay ở tuổi 82 của Bác. Mời bạn ghé wikipedia để hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Bùi Tín http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B9i_T%C3%ADn ********************************** Link đến Imeem: http://www.imeem.com/people/Rnbex5H/music/15UAkdKf/phong_van_bac_bui_tinmp3/ DOWNLOAD ĐOẠN AUDIO PHỎNG VẤN BÁC BÙI TÍN.
-
(Sat, 20 Dec 2008 00:26:24 GMT)
Chưa lúc nào mà người dân Việt Nam lại cảm nhận rõ những khó khăn chất chồng của cuộc sống như hiện nay. Cuộc khủng hoảng "nồi cơm" ở trong nước đã xảy ra còn sớm hơn cả cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Những cơn bão tài chính thế giới với phạm vi ảnh hưởng ngày càng mở rộng khi càn quét qua địa phận của những người dân Việt chắn chắn sẽ dễ dàng lấy đi những gì còn sót lại bởi người dân đã không còn nhiều sức lực lẫn niềm tin vào tài chèo chống của chính phủ. Phải tự cứu lấy mình đang là phương châm của các gia đình. Vậy nhưng phải tự cứu ra sao thì mỗi người mỗi kiểu sáng tạo và vì sự sống của bản thân, gia đình mình mà một lớp người sẵn sàng giành giựt lẫn nhau dẫn đến sự xào xáo của các tập thể đã từng là nền tảng của mọi qui tắc xã hội cộng sản. Phải nói một sự thật rằng dạo gần đây khi chính phủ công bố các số liệu thống kê lẫn dự báo tình hình người dân luôn có xu hướng không tin vào đó; tuy nhiên, khi bàn về tình trạng tham nhũng, tệ cửa quyền, thói hành dân và những ví dụ điển hình thì người dân lại rất hăng hái mổ xẻ câu chuyện ở trong gia đình, trên bàn nhậu, chốn công sở, ngoài vỉa hè với tất cả những con số, lời nhận xét, câu trách móc, tiếng chửi rủa, kiểu châm chọc mà họ có thể thể hiện ra để người đối diện hiểu rằng chúng đang là vấn nạn nhưng trở nên quá đỗi bình thường và phổ biến trong xã hội Việt Nam, một đặc trưng của xã hội chủ nghĩa. Về đến nông thôn những ngày này mới thấy quá nhiều nghịch lý đến với người nông dân một nắng hai sương. Việc gia nhập WTO từng là một mốc son được chính phủ ca ngợi hết lời. Người nông dân không hiểu hết các điều khoản mà chính phủ đã cam kết có ảnh hưởng đến mình như thế nào nhưng cũng có cảm giác hồ hởi và nghĩ rằng mọi thứ sẽ mở ra tốt đẹp cho họ vì tiến tới thị trường rộng lớn bên ngoài. Những suy nghĩ đó của người nông dân chẳng có gì sai cả, chỉ có một điều sai duy nhất là chính phủ đã lờ đi các rào cản khi thâm nhập thị trường các nước ngoài và lộ trình mở cửa thị trường trong nước. Chỉ một điều sai đó thôi đã gây ra thảm cảnh của hàng triệu gia đình khi sản phẩm nông nghiệp gặp khó khăn đủ điều sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tệ hại hơn là người nông dân còn bị thua ngay trên sân nhà khi thuế nhập khẩu của những mặt hàng tương tự giảm nhanh chóng trước cả thời hạn cho phép. Ra biển lớn không xong, bám trụ tại chỗ không được. Người nông dân chỉ còn biết ngửa cổ than trời. Hơn thế nữa, căn bệnh lạm phát bộc phát đột ngột; thiên tai, địch họa khó lường; chính sách dự báo đổi chiều như chong chóng khiến con cá không kịp ngáp, con lợn không kịp ăn, cây lúa không kịp mọc đã chịu cảnh điều hiêu chợ chiều vì những lý do to tát nhưng sau cùng thì chẳng là gì cả. Đau thay bởi lời kết luận của ông thủ tướng là theo số liệu tính toán của ban vật giá gì đó của chính phủ thì năm nay người nông dân có lời đến trên 60% những gì họ làm ra. Giá mà chính phủ có phương án gì giúp họ chuyển từ sản phẩm tồn kho thành tiền tươi thật nhỉ. Cũng chỉ là câu giá mà. Cảm giác bấp bênh, sống hôm nay chưa biết ngày mai đang quây lấy lớp công nhân ở khắp các khu công nghiệp trong cả nước. Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ngưng hoạt động, phá sản ngày một gia tăng, đặc biệt ở giai đoạn gần giáp Tết âm lịch này. Các doanh nghiệp suy kiệt sau khi uống phải thuốc chống lạm phát quá liều của chính phủ nên chẳng còn đủ hơi sức gượng dậy bằng một loạt các biện pháp vĩ mô chống giảm phát mới đưa ra. Toàn cảnh là một dạng con bệnh với hai cơn sốc thuốc chỉ trong một thời gian ngắn. Khi khủng hoảng tài chính nổ ra thủ tướng chính phủ vẫn còn mê ngủ nên nhận bừa là Việt Nam không bị ảnh hưởng gì đáng kể; thế nhưng chỉ mới vài ngày gần đây khi quá nhiều doanh nghiệp đi vào cơn hấp hối vì mất thị trường xuất khẩu, lục phủ ngũ tạng bị hoành hành bởi sắp mất đi những giọt máu cuối cùng thì thủ tướng lại hiên ngang cho ý kiến chỉ đạo tập trung chống giảm phát. Đất nước sẽ đi về đâu với những kiểu điều hành mất định hướng thế này? Đó là ba phải gặp đâu nói đó hay tùy cơ ứng biến. Rồi người dân sẽ lại được đưa vào cuộc chia sẻ khó khăn và chung tay với chính phủ vượt qua khủng hoảng! Người dân đã được hưởng mấy mươi năm độc lập-tự do-hạnh phúc rồi nay chịu khổ chút cũng là xứng đáng, ai đó đã nghĩ vậy đấy. Công nhân là số đông thứ hai sau nông dân. Đồng lương ít ỏi hay cũng đang đứng trước nguy cơ mất trắng khi doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Công nhân mất việc, không còn tiền để trụ lại nơi mà mớ rau cũng ngốn mất vài chục ngàn đồng, thì chỉ có trở về quê nhà và sắm lại vai nông dân. Gánh nặng đổi đời đặt lên vai của thế hệ kế tiếp. Công nhân mất việc cũng là nguy cơ gây nên những bất ổn xã hội bởi cuộc sống khó khăn kèm với nền giáo dục thấp thì phần người khó thắng nổi phần con khi họ chẳng còn gì để mất. Giáo dục vẫn được xem là gốc của xã hội. Dù phê phán các nước giàu về nền dân chủ của họ nhưng các quan chức vẫn không rụt tay khi chi tiền cho con cháu họ đi du học nước ngoài bởi họ biết rõ chất lượng của nền giáo dục trong nước nó thế nào. Ca ngợi xã hội chủ nghĩa nhưng họ chẳng dám chắc cái tư tưởng chủ nghĩa xã hội đó là gì. Nếu nó siêu việt thì đã không có sự biến tướng của kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội. Nền giáo dục hiện nay như con chồn tự cắn vào đuôi mình, cứ xoay vòng, lăn tròn và rơi tự do. Tiếng nói thật lòng không được xem trọng. Chủ nghĩa hình thức và thành tích ảo đã ăn sâu vào chính trí não của những người đứng đầu. Phó thủ tướng, bộ trưởng giáo dục ở tầm vĩ mô nhưng lại có biết bao phát kiến phi giáo dục khiến người ta đau tim như đòi đóng dấu chưa trả tiền lên bằng tốt nghiệp của sinh viên để buộc họ phải có trách nhiệm hoàn trả tiền vay để học cho nhà nước mà bất chấp đến lòng tự trọng lẫn tương lai lâu dài của các em, lập đề án xây dựng Văn Miếu-Quốc Tử Giám thời hiện đại để dựng bia khắc tên các tiến sĩ thời nay với giá trị dự án dự kiến vài chục tỷ đồng mặc cho lời kêu gọi tiết kiệm trong thời buổi khó khăn, tới chuyện lấy tiền ngân sách thưởng cho những bài báo được đăng ở tạp chí khoa học nước ngoài... Lời phản đối không ít nhưng ngài vẫn ung dung tìm kiểu lý giải con cóc cho những việc mình làm. Ôi, người đứng đầu để giữ cái gốc ấy còn như thế thì lấy ai chăm cho cái gốc ấy ngày càng lớn mạnh, vững vàng. Nền tảng yếu kém, sức mạnh tập thể không phát huy mà lại tạo ra những bè cánh cho kẻ cơ hội lợi dụng làm giàu bất chính. Thế hệ cộng sản mới sản sinh ra những tên trọc phú cộng sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn để vơ vét của cải của xã hội làm của riêng. Không chỉ thế, chúng còn ra tay sắp đặt trận đồ tạo lối thoát an toàn cho khối tài sản này nếu có biến xảy ra. Xa hơn nữa là làm nên thứ dân chủ giả hiệu để bịp người dân. Gương điển hình của thế hệ gian hùng này là bí thư thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh. Ông ta rất nổi tiếng với câu vè hiện đại, ở đất Đà Nẵng này thì "Trời của Thanh, đất của Thanh, con chim trên cành cũng của Thanh". Giờ đây, Đà Nẵng đang xin thí điểm việc tranh cử chức vụ Chủ tịch UBNDTP. Người không biết nhìn vào thì thấy ồ là hay. Người biết rồi thì không khỏi thất kinh bởi sự táo tợn của ông trời con này. Ông ấy đã biết rõ sự mục ruỗng của chế độ và cũng dự đoán được sự sụp đổ của cái nhà không nền móng. Cái gì có thể là cứu cánh cho tương lai của khối tài sản ông ta gầy dựng được trong bao nhiêu lâu nay? Dân chủ thực chất thì nguy. Trong lúc người dân Việt vẫn còn chưa tỏ tường mọi nhẽ thì sao ta không tự xây dựng một thứ dân chủ giấy để vận hành và lúc nào đó còn được tung hô là kẻ thức thời, đi trước thời đại. Và trong số hơn 3 triệu Đảng viên cộng sản thì không ít người như tay Thanh này mà chưa lộ mặt. Quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do, bình đẳng… là những quyền cơ bản của con người. Nhưng trong điều kiện xã hội bị bóp méo vì các rường cột chính không vững chắc thì con người trong đó có được quyền đó không? Có còn sự hy vọng nào vào chế độ cộng sản đang tìm lối thoát cho dân tộc? Ngẫm tình hình, suy kết quả. Gõ Kiến. © Tạp Chí Phía Trước. CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC SỐ 19 (12/2008): Nhìn thẳng vào sự thật. Tư tưởng nhân quyền đầu thế kỷ XX DOWNLOAD TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC SỐ 19 (THÁNG 12/2008) LỊCH TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC NĂM 2009.
-
(Sun, 14 Dec 2008 22:02:44 GMT)
Tiếng Việt ta vốn đa nghĩa, người ta có thể giải nghĩa một từ, hoặc một cụm từ theo nhiều cách khác nhau tùy theo chủ đích mà người ta muốn nhắm tới. Điều đó thì ai cũng biết… Tuy nhiên, có một trường hợp khác mà dạo này, người ta thấy các quan chức của Việt Nam vận dụng khá triệt để khi giải trình các vấn đề liên quan đến những vấn đề chính trị - xã hội, đó là trường hợp cùng một cảnh huống, nhưng dùng những từ ngữ khác nhau để diễn tả nhằm “giảm nhẹ” hoặc “gia tăng” mức độ của vấn đề, hay lái vấn đề sang một hướng khác. Chẳng hạn mới đây, khi sách giáo khoa (SGK) mắc nhiều lỗi. Lúc đầu, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự định in ba cuốn “đính chính” SGK. Thế nhưng, khi dư luận bày tỏ sự bức xúc, thì từ "đính chính" không được sử dụng nữa, mà thay vào đó là từ "chỉnh sửa", cùng với nó là việc chỉ in các "tài liệu chỉnh sửa" chứ không phải là sách "đính chính" SGK. Vấn đề có lẽ nằm ở việc đính chính sách giáo khoa "thu hút sự chú ý của dư luận", như lời ông Lê Quán Tần trong cuộc họp báo ngày 11-9. Rõ ràng, khi dùng từ "chỉnh sửa" và giải trình với báo giới về việc không in "sách đính chính" SGK nữa, mà thay vào đó là các "tờ" hay "tài liệu chỉnh sửa" SGK, Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng vấn đề. Dư luận bị thu hút vào việc đính chính SGK và cứ theo cách làm quan liêu của các cơ quan hành chính hiện nay, thì việc Bộ Giáo dục và Đào tạo "chơi chữ" trong trường hợp này để giảm nhẹ "mức độ nghiêm trọng" cũng là điều dễ hiểu!? Và dù gì đi nữa, thì việc dùng từ "chỉnh sửa" thay cho từ "đính chính" cũng vẫn là việc "sửa cái sai thành cái đúng". Tuy nhiên, mục đích khi sử dụng "thủ pháp" này có lẽ làm cho người dân không hài lòng lắm về sự "sòng phằng" lẽ ra Bộ Giáo dục và Đào tạo phải có trong trường hợp này, trước hết là về phương diện dùng từ ngữ cho thật chính xác. Bởi vì dù gì đi nữa, thì SGK đã có nhiều điểm sai rồi, và sai thì phải sửa, thậm chí phải thu hồi các sản phẩm SGK kém chất lượng, bồi thường cho xã hội và người tiêu dùng thì đằng này, Bộ GD-ĐT lại nại đến việc dùng từ ngữ như một "thủ pháp"!!! Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, hành động này hiện nay đã trở thành phổ biến đối với các cơ quan hữu quan khi giải trình các vấn đề với người dân. Chẳng hạn ngay sau khi sự cố hoa hậu Việt Nam 2008 xảy ra, thì người có trách nhiệm, mà cụ thể là Trưởng ban tổ chức Dương Xuân Nam đã "linh hoạt" khi vận dụng từ ngữ để giải trình về việc hoa hậu Thùy Dung chưa tốt nghiệp PTTH bằng cách nói rằng: quy chế dự thi hoa hậu chỉ bắt buộc thí sinh “có trình độ PTTH”, mà có trình độ PTTH không có nghĩa là phải tốt nghiệp PTTH. Hay lùi xa hơn một chút. Khi dịch tả bùng phát, thì các quan chức Bộ Y tế đã không gọi thẳng đó là dịch tả, mà dùng một cụm từ khác để gọi căn bệnh này: dịch tiêu chảy cấp có nguyên nhân từ vi khuẩn tả!!! Ngay cả ở Quốc hội, thì việc sử dụng từ ngữ của các Bộ trưởng khi trả lời đại biểu cũng có điều đáng phải bàn. Trước đây, khi bị truy vấn về các vấn đề quốc kế, dân sinh, một số vị đại biểu đã hứa sẽ thực hiện việc này, điều kia… Thế nhưng, khi đến kỳ họp sau, đại biểu phát hiện ra rằng: những gì các Bộ trưởng hứa vẫn chưa được thực hiện, thì các Bộ trưởng lại chối và cho rằng: mình chưa hứa gì cả! Đến mức quốc hội phải quy định rạch ròi thế nào là lời hứa và những phát biểu “có tính chất lời hứa” khi nói về các giải trình của các Bộ trưởng. Thái độ không sòng phẳng này xuất phát từ đâu? Phải chăng là từ việc chế độ trách nhiệm chưa được áp dụng triệt để, chưa trở thành tiêu chí để đánh giá năng lực cũng như hiệu quả của những người đứng đầu các cơ quan? Dường như, tất cả những vấn đề nêu trên là hậu quả của việc tránh né, giảm nhẹ các mặt tiêu cực ở nước ta từ trước tới nay. Người ta có thể thấy điều này nhan nhản ở các báo cáo từ cấp địa phương cho đến trung ương. Khi nào cũng vậy, những “thành tích” luôn chiếm dung lượng thật nhiều trong các bản báo cáo, còn các tiêu cực, mặt trái, hạn chế… thì luôn chiếm dung lượng ít. Cá biệt, khi nêu lên những vấn đề không tích cực, các mặt trái, thì hầu hết đều có những “nguyên do khách quan và chủ quan” chi phối. Việc dùng từ ngữ ở mục này cũng thể hiện sự “linh hoạt” khi các từ: “còn một số hạn chế, một số tồn tại, một số bất cập” được sử dụng triệt để. Phải chăng những điều này xảy ra do chúng ta chưa thực hiện nghiêm túc chế độ trách nhiệm của người đứng đầu? Hay còn do một nguyên nhân nào khác? Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu đã được đề cập đến nhiều, nhưng có lẽ nó chưa thay được chế độ trách nhiệm tập thể mà chúng ta đã thực hiện trong một thời gian dài. Có lẽ, do chính cái chế độ trách nhiệm tập thể ấy. Khi chúng ta còn dùng từ ngữ để “linh hoạt”, để giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của vấn đề, để nhằm những mục đích khác… thì phải chăng chúng ta đang tránh né, không dám “nhìn thẳng vào sự thật”? Bao giờ cũng vậy, “nhìn thẳng vào sự thật” là tiền đề của phát triển. Muốn nhìn thẳng vào sự thật, thì phải có lòng dũng cảm, có tâm huyết với đất nước, với dân tộc, để thực sự chân nhận những yếu kém, những thiếu sót, để dám nhìn nhận và chịu trách nhiệm cụ thể, chứ không phải là chịu trách nhiệm chung chung, bằng lời nói. Xem ra, vấn đề thiết yếu đối với đất nước hiện nay chính là phải “nhìn thằng vào sự thật”, mà chủ thể đầu tiên cần phải thực hiện việc này là Chính phủ và Đảng Cộng sản VN. Thành Luận © Tạp Chí Phía Trước. CÁC BÀI VIẾT KHÁC TRONG TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC SỐ 19 (12/2008): Tư tưởng nhân quyền đầu thế kỷ XX Tạp Chí Phía Trước số 19 DOWNLOAD TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC SỐ 19. LỊCH TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC NĂM 2009.
-
(Wed, 10 Dec 2008 01:05:18 GMT)
Lâu nay, một số người khi nghe đến hai từ “nhân quyền” thường giãy nảy lên: Việt Nam có nền văn hoá khác biệt, đừng có mang cái tư tưởng phương Tây áp đặt vào. Thế nhưng, tư tưởng nhân quyền không phải là bây giờ mới được nói đến. Các nhân sĩ từ đầu thế kỷ XX đã có nhiều bài viết, tác phẩm cổ vũ cho nhân quyền. Bài tổng hợp ngắn này muốn giới thiệu sơ lược một số tư tưởng như vậy của các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, ba trong số những những nhân vật lịch sử tiêu biểu nhất của thời điểm ấy: Cụ Phan Bội Châu- nhà lãnh đạo phong trào Đông Du, cụ Phan Chu Trinh với Đông Kinh Nghĩa Thục, cụ Huỳnh Thúc Kháng với báo Tiếng Dân (1927-1943)- tờ báo Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Đặc điểm chung trong tư tưởng của ba cụ, là vừa cổ vũ học tập những điều hay, điều tốt của phương Tây và các nước láng giềng, vừa phải củng cố những cái tốt của Khổng học, gạt bỏ những hủ tục, là “đem văn minh đây là đem cái chân văn minh ở Âu Tây hoà với chân Nho giáo ở Á Đông, chứ không phải là tự do độc lập ở đầu lưỡi của mấy anh Tây học lem nhem mà cũng không phải là quốc hồn quốc tuý ngoài môi của mấy bác hán học dở mùa…”- như lời cụ Phan Chu Trinh (Thế Nguyên 156) Dân quyền trong chân Nho giáo Nền cổ học và các giá trị căn bản của nền văn hoá phương Đông mà các cụ nhắc đến là tư tưởng Khổng giáo, nhưng là Khổng giáo nguyên thuỷ của Khổng Tử, chứ không phải Tống Nho vốn bị cắt xén, giải thích để phục vụ cho lợi ích của giới cầm quyền. Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết: “Nói đến Á Đông tất nhiên trước kể nước Tàu mà nói đến học thuật nước Tàu, tất nhiên trước kể Khổng Giáo. Học thuyết của Tàu thịnh nhất là đời Xuân Thu chiến quốc. Khổng giáo cũng là một học thuyết trong các học thuyết khác (như Mặc học, Lão học v.v…) chứ không phải Khổng giáo là toàn hay mà các giáo khác là toàn dở. Sang từ đời Hán trở xuống, các nhà đế vương thấy Khổng giáo có những lời tồn cổ Trung quân, tiện lợi vẽ đường chánh thể chuyên chế, nên biểu dương tôn sùng, nêu làm chánh học mà bãi truất các học thuyết khác đi. Nhân đó lần lần bọn tục nho lại theo mà tô vẽ xuyên tạc. Thực ra, chân tướng Khổng giáo bị chánh thể uốn vặn một phần, bị nhà nho mấy đời sửa đổi một phần; chính ở nước Tàu là nơi Khổng giáo phát nguyên mà sai lạc đã nhiều, huống ở nước ta học theo văn hoá Tàu lai cách xa một bậc nữa. Ở ta thuở nay ai học chữ Hán tức tự nhận mình là học trò ông Khổng, chứ mấy ai rõ chân tướng Khổng giáo là thế nào đâu!” (Chương Thâu 288) Theo cụ, một trong các khuyết điểm của Nho giáo- Tống Nho là “chánh trị chỉ nói với người cai trị mà không đến hạng bị trị”: “Toàn những thuyết của Khổng tử nói về chánh trị thì chú trọng về vua quan mà không nói đến dân, dân chỉ ngồi không mà nhờ người trên sắp đặt lo liệu cho mình mà thôi. Không những người dân không cần phải lo việc cho mình mà lại cho dân là hư hỏng không tự lo được nữa không dẫn đâu làm, chỉ xem trong sách Luận ngữ, như nói ‘khiến dân, trị dân’ và nói ‘dân phục, dân khuyến’ thì thấy rõ bao nhiêu công việc trị an, đều trách vào người trên mà chỉ nói lý trống như Kính, từ, tín. Nói đến dân thì có những câu: “Dân là hạng mạt, dân không thể khiến cho nó biết.” (Chương Thâu 290)
Trong Đạo đức và luân lý Đông Tây, cụ Phan Chu Trinh cho rằng đạo Khổng Mạnh nguyên thủy không phải là đạo Khổng Mạnh được dạy bấy giờ: “Đạo Khổng Mạnh không phải là cách chuyên chế của các nhà vua mà các anh em mộng tưởng đâu. Đạo Khổng Mạnh dạy quân dân tịnh trọng (vua dân đều trọng) và rất bình đẳng; vua và dân đều cần đạo đức luân lý, nghĩa là dân phải kính trọng vua như cha mẹ mà vua cũng phải suy lòng đó yêu dân như con đỏ vậy. Trong sách đại học, thầy Tăng Sâm dẫn lời đức Khổng rằng: ‘tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn’: từ vua cho đến dân phải lấy việc sửa mình làm gốc. Sửa mình là việc lớn mà đức Khổng tử buộc dân và vua đều phải như thế, chẳng là bình đẳng lắm ru? Cái chính thể ấy bên châu Âu thực hành đã lâu rồi, nghĩa là cái chính thể quân dân cộng trị mà Tàu dịch ra là quân chủ lập hiến vậy. […] Đến thời ông Mạnh, các vua chư hầu chuyên chế thái quá thì ông lại xướng lên cái chủ nghĩa dân chủ. Nhưng ông nói rằng: ‘dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh’ nghĩa là dân quý hơn hết, đất cát thứ nhì, vua là khinh. Ngày nay bên Đức, bên Pháp, bên Nga tuy chính thể của họ có khác nhau chút đỉnh nhưng đều thực hành cái chủ nghĩa dân chủ cả. Thế thì cái văn minh Âu chau bây giờ có trái gì với đạo Khổng mạnh đâu.” (Thế nguyên 154, 155) Bàn đến “quốc gia luân lý”, cụ Phan Chu Trinh cho rằng chính vì “quốc gia luân lý của ta từ xưa đến nay chỉ ở trong vòng chật hẹp hai chữ vua và tôi. Không nói đến ‘dân và nước’ vì dân không được bàn đến việc nước. […] Cho nên dân trong nước không biết quyền là gì, thương nước là gì, nghĩa vụ là gì. Vua của ta ngày xưa là thế, tôi của ta ngày xưa là thế, sử sách của ta gọi nước là như thế! Cho nên dân không biết vua và nước có cái giới hạn gì khác nhau không. Vì thế, cho nên dân chỉ biết nghĩa tôn quân mà không biết nghĩa ái quốc..” (Thế Nguyên 140, 141) Vậy làm sao mà nước mạnh cho được? Bởi vì, theo cụ Phan Bội Châu, “dân quyền mà được đề cao thì nhân dân được tôn trọng mà nước cũng mạnh. Dân quyền bị xem nhẹ thì dân bị coi khinh mà nước yếu. Dân quyền hoàn toàn mất thì dân mất, mà nước cũng mất.” (Phan Đăng Thanh 105) Nhân quyền Cụ Phan Bội Châu phát triển tư tưởng nhân quyền trong các tác phẩm của mình từ chính tư tưởng của Mạnh Tử. Cũng như Mạnh Tử, Phan Bội Châu cho rằng bản chất của con người là lương thiện, vì làm người ai cũng có cái tâm. Chữ Nhân trong Khổng giáo đòi hỏi người quân tử phải đối đãi công bằng với người xung quanh mình, với sự chân thành, khoan dung, với chữ tín, chữ huệ. Từ chữ Nhân trong Khổng giáo, Phan Bội Châu suy ra cái bình đẳng, bác ái giữa người đời. Trong Khổng học đăng, ông viết : “ ‘Trung’ là thế nào? Chữ ‘Trung viết: ở trên thì chữ ‘trung’ mà ở dưới thời chữ ‘tâm’. Nghĩa là nhất thiết xử việc, tiếp người, tuyền móc ở trong lòng mình ra, không một tí gì dối lòng, ấy là trung, mà chính là cái ‘thể’ của chữ ‘nhân’. Chữ ‘thứ’ là thế nào? Chữ ‘thứ’ viết chữ như ở trên, chữ ‘tâm’ ở dưới, nghĩa là ứng phó với nhất thiết người, tất thảy xem người như mình. Suy ở trong lòng mình mà đo lường đến lòng người thời biết được lòng người cũng như lòng mình mà đối đãi bằng một cách bình đẳng, bác ái. Ấy là chữ ‘thứ’, mà chính là cái ‘dụng’ của chữ ‘nhân’.” Như vậy, lý tưởng công bằng, bác ái mà người Pháp tâm niệm hoàn toàn có thể được giải thích bằng nền tảng triết học phương Đông. Từ “nhân chi sơ, tính bản thiện”, cái tâm, cái thiện, chữ nhân trong mỗi người dạy họ cách tôn trọng người khác, cũng như khiến họ được quyền được tôn trọng bởi người khác. Đó chính là bình đẳng, bác ái. Ông viết: “Trời sinh ra người, có hình thể như nhau, có tính tình như nhau, ta không dám cậy là thánh thần mà bỏ những lời nói hay của người, ta không dám cậy khôn ngoan mà bỏ những nết tốt của người. Đấy là bụng nghĩ bình đẳng đã có mầm mống rồi đấy, duy người ta giẫm đạp lên mà không biết đấy thôi.” Đến tác phẩm Khổng học đăng, Phan Bội châu khẳng định rằng : “ Chính trị dân chủ cộng hoà chính là ý trời lòng dân ở vào chốn ấy. Vậy nên nguyên lý tinh thần cuả chínnh trị chỉ có một chốn đứng vững chân tức là ức muôn người như nhau.” (Nguyễn Văn Hòa 168, 169) Quyền tự do ngôn luận Nói về quyền tự do ngôn luận, không thể nhắc đến bài luận cùng tên của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong Tiếng Dân. Đọc lại những gì cụ viết, người viết bài này chợt giật mình vì thấy những gì cụ viết đầu thế kỷ XX sao đến giờ vẫn đúng…: “Cái tiếng tự do ngôn luận ở xã hội hiện thời, chỉ là một tiếng trống không, vô luận là hạng người nào, cũng đều là không được tự do ngôn luận. Ngôn luận của người bản xứ, trừ một số ‘xu thời vụ lợi’, bị con ma kim tiền và thế lợi nó ám ảnh mà phải bỏ cái nhân cách mình mà mạo cái nhân cách khác, viết mà không phải ý của mình, nói mà không phải lời của mình, thực không có chút gì gọi là tự do, còn những nhà không vì danh, không vì lợi, lòng son máu nóng, chan chứa vì nòi giống non sông, nhưng lại bị cái lưới pháp luật bủa vây, muốn nói mà không được nói, tư tưởng không thể bày tỏ tự do, điều ấy cũng không phải nói nữa. Đến những hạng ngôn luận mà bề ngoài phần nhiều người vẫn cho là tự do, nếu xét nội dung và ẩn tình thì thực chẳng có chút gì tự do cả. […] Nhà ngôn luận là vật sở hữu của người khác, có khác gì người nô lệ là vật sở hữu của kẻ công dân, có khác gì người nông nô là vật sở hữu của nhà quý tộc. Đã vậy thì lời mình nói, bài mình viết không thể là ý của mình mà phải theo ý của người làm chủ. Chân lý mà chống chọi với lợi ích của chủ thì mình cũng phải giấu đi và thoá mạ, những điều khí trá ác hại mà có lợi cho chủ thì dù mình biết là trái với lương tâm mà cũng phải xưng tụng tán dương. […] Nếu đem hai cái không tự do mà so sánh với nhau thì cái ngôn luận kiểm duyệt của ta mà còn có cái vẻ tự do hơn của họ. Vì rằng ta không có quyền tự do nói những đièu nên nói, mà ta lại có quyền tự do không nói những cái không nên nói. Chứ họ thì không những không được nói những điều có ích cho công chúng mà lại nhiều khi phải nói những điều trái với lương tâm.”(Chương Thâu 316-318) Quyền phụ nữ Một điểm đặc biệt trong tư tưởng của ba cụ là sự ủng hộ tư tưởng nữ quyền. Nhiều nhà nữ quyền châu Âu hẳn phải giật mình khi thấy các Nho sĩ đầu thế kỷ XX ở nước Nam xa xôi sao mà tiến bộ quá… Cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh cho rằng bình đẳng vợ chồng là “tính tự nhiên của loài người”: “Về đạo vợ chồng thì ta vẫn nói là ‘phu xướng phụ tuỳ’ là ‘thiếp phụ dĩ thuận vi chính’ hoặc ‘xuất giá tùng phu’ song ta coi thì rút cục lại nhà nào thuận hoà tức là vợ chồng nhà ấy có đạo đức, có tính cách ngang nhau mới được thế. Nếu nhà nào vợ khôn hơn chồng thì vợ làm chủ. Xem đó thì cũng đủ biết rằng sự gì gây dựng ra không theo tính tự nhiên của loài người thì dẫu có quyền chuyên chế mạnh đến đâu cũng không buộc người ta theo được”. (Thế Nguyên 140) Tương tự, cụ Phan Bội Châu phản đối tư tưởng bất bình đẳng vốn tồn tại trong cấu trúc gia đình, quốc gia thời ấy: “Đạo đức mà chỉ vì quân, phụ, trưởng, quý, dụng tình áp bức thần, tử, ấu, tiện để thoả lòng tự lợi mình, thiệt là tối bất đạo đức.” (Nguyễn Văn Hòa 168) Trong quyển Vấn đề phụ nữ, cụ bài xích tư tưởng hủ nho “nam tôn nữ ty”, “nam quý nữ tiện”: “Thiệt trái đạo, vô lý quá chừng, mà quái gở cho những món hủ lậu, những món gian tà, họ lại tỏ vẻ ra những câu sách vở làm thàm, họ muốn cho đàn bà con gái trót một đời trong vòng áp chế!” (Phan Đăng Thanh 105, 106) Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng là người ủng hộ tư tưởng bình quyền chị em phụ nữ: “Về đường lý tưởng thì tôi vẫn nhận cái thuyết nam nữ bình đẳng là hợp với nhân đạo và công lý, mà những học thuyết cùng phong tục bên Á Đông ta ngày xưa ‘nam nữ tôn ti’ nam quí nữ tiện là sai lầm” (Nguyễn Q. Thắng 160), vì “đàn ông, đàn bà ở trong xã hội cũng như tay mặt tay trái trong thân thể.” (Nguyễn Q. Thắng 160) Thế nhưng, bên cạnh đó, cũng cần giữ những lề thói truyền thống tốt đẹp, thì mới mong phát huy cái hay học được từ xứ người: “Nói về thiển ý của tôi đối với vấn đề phụ nữ (…) thì tôi cho ‘biết bịnh tức là thuốc’, ở xã hội mới cũ dở dang như xã hội ta ngày nay thêm một điều lợi không bằng một điều hại (…) về phương diện phụ nữ lại càng cần thiết (…) nên cần thức tỉnh nữ đồng bào ta trong cơn mê mộng thì nên tựu chỗ hư nết xấu, sự lầm điều dở, mà tìm cách đào gốc lấp nguồn rồi sẽ đem gương tốt Âu Mỹ mà lần lần chỉ dẫn thì thực tế mới có trước lạc.” “Nếu không như vậy ruộng đầy những cỏ, thì giống tốt cũng không chỗ mọc lên, ao chứa những | |