Luyenkim.Net!

...where your idea grows!

 
  • Decrease font size
  • Default font size
  • Increase font size
Trang chủ arrow Diễn đàn arrow Mạng Luyenkim.NET arrow Tin từ các diễn đàn về Vật liệu
Luyện kim
Quốc Xưa Nay - Duong Trung Quoc's Blog - Đại biểu quốc hội (1 đang xem) (1) Khách
Bài viết dưới cùng Gửi trả lời Được ưa thích: 0
CHỦ ĐỀ - Quốc Xưa Nay - Duong Trung Quoc's Blog - Đại biểu quốc hội
#1343
blogger
(Người điều hành)
Moderator
Bài viết: 51
graphgraph
Thành viên gián tuyến Click vào đây để xem thông tin về thành viên này
Quốc Xưa Nay - Duong Trung Quoc's Blog - Đại biểu quốc hội 1 Năm trước đây Đánh giá: 1  

Quốc Xưa Nay

Dương Trung Quốc

  • Dân không sợ nộp thuế, chỉ sợ không công bằng

    (Mon, 19 Nov 2007 10:39:58 GMT)


    Blog entry 16.11: Chỉ vài hôm nữa, Luật Thuế thu nhập cá nhân sẽ được đưa ra biểu quyyết tại kỳ họp thứ 2 này, quan điểm vẫn nhiều khác biệt những chủ yếu tập trung vào những vấn đề định lượng để giải quyết ai là đối tượng do sắc luật này điều chỉnh mà ít ai quan tâm đến định tính để thấy sắc thuế này có ý nghĩa như thế nào để đất nước ta hội nhập với đời sống hiện đại. Vì thế viết bài báo này trong mục "Nghĩ ngợi cuối tuần” của "Lao Đông cuối tuần”, tuần trước.

    “Dân không sợ nộp thuế, chỉ sợ không công bằng”

    Đó là câu bình luận của Đại biểu QH TPHCM, bác sĩ Trần Đông A, người mổ tách thành công cặp trẻ song sinh Việt- Đức từ hai thập kỷ trước, khi phát biểu về Luật Thuế thu nhập cá nhân. Cuộc thảo luận về dự án luật này đến nay đã tròn một năm. Tháng 11 năm ngoái, các đại biểu Quốc hội khoá XI đã bàn lần đầu, dư luận xã hội cũng rộng đường bàn theo.

    Vậy mà đến lần thảo luận này, có thể một phần vì có một số đông các vị đại biểu mới “nhập cuộc” nên cuộc thảo luận có vẻ như trở lại những gì kỳ họp trước đã bàn. Vẫn là những ý kiến đề cập tới những vấn đề cụ thể như mức thu nhập bao nhiêu là đối tượng chịu thuế, cách tính chiết trừ gia cảnh thế nào, ứng phó với “trượt giá” ra sao, lãi tiết kiệm, chứng khoán, tiền gửi kiều hối… có tính thuế hay không; làm thế nào để kiểm soát được thu nhập khi nhiều giao dịch thanh toán vẫn nằm ngoài mọi sự kiểm soát; dự báo về những khó khăn từ phía bộ máy thu thuế và những cách ứng phó của người nộp thuế…? Lại có những y kiến cho rằng nước ta thu nhập còn thấp nên chưa thể áp loại thuế này vào thời điểm hiện nay…

    Có cảm nhận đây là lần thảo luận để… sửa đổi lần thứ 6 “Pháp lệnh thuế thu nhập đối với nguời có thu nhập cao” đã được ban hành từ 16 năm nay (1991) và đã qua 5 lần sửa đổi. Dường như vẫn cảm thấy có một rào cản nào đó trong tâm thức dân ta. Ý niệm về thuế giống như một sự tuớc đoạt nhiều hơn là sự đóng góp, chỉ là một nghĩa vụ hơn là một quyền của công dân. Chẳng thế mà trong ngôn ngữ tiếng Việt có một động từ tạo thành cụm từ “đánh thuế”. Về ngữ nghĩa, “đánh” là một tác động trực diện từ bên ngoài và ngoài ý muốn của đối tượng “bị đánh”.

    “Đánh thuế” đúng là một dấu ấn của lịch sử đã ăn sâu vào tiềm thức dân ta và lưu dấu trong ngôn ngữ thường dụng. Đó là dấu ấn của một trường kỳ lịch sử mà thuế là một hành vi cưỡng bức, chứa đựng sự bất công, nguồn gốc và biểu hiện của sự áp bức chính trị… gắn với chế độ phong kiến và đặc biệt là thời thuộc địa kéo dài cho đến giữa thế kỷ XX. Trong hệ thống thuế, các sắc thuế trực thu trong đó đặc biệt là “thuế thân” (thuế đinh) được coi là biểu trưng cho quyền lực của thế lực cai trị như vua đối với thần dân (thời phong kiến) hay thực dân đối với thuộc dân (thời thuộc địa). Ngoài hệ thống thuế còn vô số các loại phụ thu do bộ máy quan liêu từ trên xuống dưới bày đặt trở thành gánh nặng thống khổ cho người dân.

    Vì thế mà việc chống sưu cao thuế nặng đã trở thành mục tiêu đấu tranh của người dân và là khẩu hiệu tập hợp của các lực lượng chính trị muốn lôi kéo nhân dân nhất là người nông dân theo mình. Cách đây 100 năm, năm 1908 chứng kiến một cao trào chống thuế cự sưu của nông dân các tỉnh miền Trung và trong lịch sử nó được coi là dấu hiệu của phong trào nông dân hướng tới các mục tiêu dân chủ…

    Cũng chính vì vậy, khi Cách mạng mới thành công, một trong những sắc lệnh đầu tiên của nhà nước Dân chủ Cộng hoà là thủ tiêu thuế thân cũng như các sắc thuế trực thu khác. Trong thời kỳ đầu, nguồn tài chính đóng góp cho bộ máy nhà nước chủ yếu dựa vào sự ủng hộ tự nguyện của nhân dân, đặc biệt là các nhà công thương mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương với Tuần lễ Vàng như một hành vi tiêu biểu nhất. Cuộc chiến tranh nhân dân đã huy động tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp xã hội dồn sức cho tiến tuyến đánh giặc.

    Nhưng cũng ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận thấy yêu cầu của một nhà nước độc lập và hiện đại sớm muộn phải có một nguồn thu bền vững là hệ thống chính sách thuế. Và với Hồ Chí Minh, bao giờ cũng bắt đầu bằng giáo dục con người. Cuộc vận động xây dựng “Đời Sống Mới” nhằm mục tiêu “giáo dục lại nhân dân”để cải tạo những “thần dân” chỉ biết tuân phục của chế độ cũ thành những “công dân” ý thức được nghĩa vụ và quyền lợi của mình đối với xã hội mới là một sự khởi động.

    Nhưng chiến tranh bùng nổ khiến cho đến năm 1952, sắc thuế nông nghiệp mới được ban hành. Tuy không phải là thuế trực thu nhưng nó tác động đến đại bộ phận dân cư, những người nông dân đang là chủ lực của đội quân cách mạng tại mặt trận cũng như ở hậu phương.

    Đọc lại lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung, của ngành tài chính nói riêng, chúng ta có thể thấy quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ coi chính sách thuế thuần túy là một giải pháp nhằm tăng nguồn thu ngân sách mà còn là trường học ý thức công dân. Đọc lại nhật ký của Bộ trưởng tài chính Lê Văn Hiến, trong đó ông kể lại những trăn trở của Bác Hồ trong quá trình dự thảo Luật thuế Nông nghiệp trước khi mang ra Quốc hội thông qua tại chiến khu Việt Bắc…

    Với thuế nông nghiệp, hàng vạn tấn thóc thu được để nuôi quân đánh giặc, trả lương cho bộ máy kháng chiến mà những chính sách sát thực với hoàn cảnh và nguyện vọng của người dân đã có những tác động tích cực làm thay đổi ý thức của con người và đời sống nông thôn vùng tự do trong thời kỳ kháng chiến đang gian khổ…

    Nhưng tiếp đó, những sai lầm trong Cải cách ruộng đât, tiếp đó là cả một thời kỳ dài trong lịch sử, không chỉ chiến tranh mà cả những quan điểm về một nền kinh tế tập trung và bao cấp của nhà nước cùng với sự thu hẹp và triệt tiêu kinh tế tư nhân đã làm thay đổi theo chiều hướng ngược lại… Nền kinh tế tập thể đã làm thay nghĩa vụ công dân và người dân trở lại với tâm thức của những “thần dân” tuân phục sự chỉ huy của một nhà nước đang lãnh đạo một cuộc chiến tranh kéo dài khốc liệt bằng những nguồn lực được viện trợ từ bên ngoài cùng sự hy sinh vô bờ bến của nhân dân. Thuế trở thành một cái gì xa lạ với đời sống của nhân dân, quá lắm nó chỉ là vấn đề liên quan đến cánh tiểu thương buôn thúng bán mẹt…

    Nghĩ ngợi lan man để trở lại với Luật thuế thu nhập mà theo chương trình thì chỉ mươi ngày tới là Quốc hội thông qua. Một sắc thuế mà mọi người, kể cả những người có thu nhập thấp cùng tham gia, với một mức đóng hợp lý để người nghèo cũng được bình đẳng trong nghĩa vụ công dân và người thu nhập cao san sẻ lợi ích của mình cho toàn xã hội trong đó có cả những đối tượng là người nghèo hơn. Phải nhìn nhận rằng Luật thuế thu nhập chính là cơ hội để thể hiện được sự bình đẳng và công bằng xã hội. Cho đến lúc này, mới chỉ có tầng lớp những doanh nhân có được cơ hội để thể hiện phẩm chất công dân của mình qua hành vi nộp thuế. Tại sao Luật thuế thu nhập không phải là cơ hội của mọi người đã được gọi là công dân?

    (Trích nhật ký QH)
    Dương Trung Quốc


  • Nghĩ về chuyện “đạc điền”

    (Sat, 17 Nov 2007 13:42:23 GMT)


    Blog entry 17.11:
    Tôi nhớ lại rằng ngay từ năm 2003 khi mới tham gia QH được bàn về Luật Đất đai (sửa đổi) ở hội truờng mình đã thẳng thừng nói rằng Luật đất đai (từ 1993) tạo ra một sự đảo lộn chưa từng có trong lịch sử, nó có thể tạo ra những biến đổi tích cực bề ngoài nhưng nó để những hậu quả không lường về sự bât công và những mầm mống bất ổn định khi nó đã từ bỏ hoàn toàn những yếu tố truyền thống trong lĩnh vực quản lý một trong những vấn đề hệ trọng nhất của một quốc gia phươg Đông. Nghĩ ngợi cuối tuần tuần này nhắc lại một nét lịch sủ liên quan…


    Nghĩ về chuyện “đạc điền”

    Ì xèo biết bao nhiêu năm câu chuyện sổ đỏ sổ hồng bàn đi tính lại làm phiền lòng dân chúng đang trong cơn khát sở hữu nóng lòng muốn nắm trong tay cái bằng chứng về quyền sử dụng nhà cửa đất đai của mình. Có cái ấy mới tỏ ra là người có sở hữu có nghĩa là có cái giá để thế chấp khi cần thiết.

    Chính phủ còn loay hoay chưa phân định được bộ nào là có quyền hơn bộ nào trong việc cấp sổ thì lần này Quốc hội lại bàn rồi hạ quyết tâm nhập đỏ với hồng làm một sổ và phải làm cho dứt điểm, thảo nghị quyết đến 2010 phải xong. Có vị lại “mặc cả” rằng xong 90-95% thôi, hay lại dùng cái thuật ngữ cổ điển trong các báo cáo là “cơ bản xong” hay “xong cơ bản”, vì biết trước còn nhiều khó khăn lắm…

    Nhận đơn khiếu kiện của dân thấy việc đất đai là nhiều nhất trong đó có cả việc đo đạc, phân chia không rõ ràng khiến dân tranh chấp với dân, với nhà nước và với những chủ doanh nghiệp đến làm dự án…

    Về nhà bọn con trẻ hỏi bố mẹ già: Có thích xem ngôi nhà của mình từ trên vũ trụ nhìn xuống không, rồi bật mạng Google Earth . “Click” một cái, dần dần như mặt đất bị hút lên trời, cái mái của nhà mình hiện ra không lẫn vào đâu được…Thánh thật ! Lại thấy các dự án quản lý đất đai bằng những “phần mềm” tân tiến, cái gì cũng bằng máy đâm ra nghĩ ngợi đến việc người xưa không biết quản lý bằng cách nào ? …

    Đọc sách sử thấy cách đây cả một thế kỷ rưỡi năm, các cụ nhà mình quản chuyện đất đai có vẻ không đến nỗi khốn khó như bây giờ. Bằng cứ là trong tay chỉ có cái thuớc đạc địa tựa cái compa lớn mà khoảng cách giữa hai chân thước ấn định bằng một độ dài tiêu chuẩn. Viên “đạc điền quan” cứ xoay bên này rồi lại xoay bên kia cái thước compa tựa con sâu đo để tính ra chiều dài, chiều rộng, các thửa đất. Thêm nữa là cái bàn tính gẩy bằng gỗ tanh tách cho ra những con số quy ra diện tích phân, tấc, thước rồi sào, mẫu. Thêm một cái la bàn định vị bốn phương tám hướng. Tiếp đó được biên vẽ bằng tay trên những tấm giấy dó, mộc mà bền. Những văn bản có biên vẽ trên giấy ấy gộp lại của một làng được gọi là địa bạ (trong đó có phần liên quan đến ruộng đất thì gọi là điền bạ) được sao chép thành ba bản. Bản “bính”để tại làng, bản “ất” đưa về tỉnh và bản “giáp” chuyển về Kinh. Nhiều địa bạ gộp lại tuỳ theo tổng số trang thích hợp đóng lại thành một tập.

    Đến bây giờ, trải bao nhiêu biến động của giời đất, biến cố của xã hội mà trong thư khố của nước ta vẫn còn giữ được, theo thống kê chính xác là 10.044 tập địa bạ ghi chép số liệu thống kê kèm theo bản vẽ tất thảy các thửa đất, thửa ruộng trong nước (nếu xếp đứng trên giá sách thì dài cả trăm thuớc tây). Các nhà khảo cứu tính toán rằng phần còn giữ được chiếm khoảng 8/10 tổng số địa bạ đã được lập trên lãnh thổ cả nước, số còn lại bị thất lạc, hư hỏng…

    Đấy là những địa bạ được thực hiện trong ba thập kỷ đầu triều Nguyễn của 2 vị vua Gia Long và Minh Mệnh. Thực ra việc quản lý đất đai như một tài nguyên quốc gia đã được thực hiện từ xưa và được coi là một việc hệ trọng hàng đầu của quốc gia vì nó là nguồn tài lực của triều đình và liên quan đến hầu hết dân cư có sức mạnh “nâng thuyền hoặc lật thuyền”. Sử ghi rằng ngay từ buổi đầu “nhà Trần, làm sổ hộ tịch, cứ hàng năm lại làm kế tiếp phép làm rất rõ và kỹ vì là noi theo phép cũ của nhà Lý nên như vậy”. Thuế ruộng thì đã được Lý Thái Tổ (1010-1028) đặt ra ngay sau khi lập triều, còn Trần Thái Tông (1225-1258) thì bắt đầu đặt thuế thân nhưng quy định rằng chỉ ai có 2 mẫu ruộng trở lên mới phải chịu thuế. Như vậy là thuế thân cũng tùy theo tài sản là đất đai…

    Sử sách, thư tịch để lại không nhiều, nhưng có thể nói là việc quản lý đất đai đã đi vào quy củ và tiếp nối từ đời này qua đời khác gần như thành tập quán của triều đình, của quan lại, của làng xã và của dân cư. Những biến cố chính trị bao giờ cũng liên quan đến vấn đề điền địa tức là yếu tố hạt nhân cho sự “an dân”. Gặp thời thịnh trị thì đất đai được quản đâu vào đấy, ruộng tư ngày một nhiều, gặp thời suy mạt thì cường hào lộng hành, đất đai lại một phen bị tước đoạt vào tay nhà nước…

    Đến thời Gia Long lần đầu quản trị cả một lãnh thổ rộng lớn và hoàn chỉnh thì một trong những viẹc dầu tiên là phải “khám điền” ở vùng đất cũ và phải “đạc điền” tại vùng đất mới là Nam và Trung Kỳ. Vua Minh Mạng năm 1836 nhận thấy rằng sổ sách không rõ ràng thì “nếu xảy ra án kiện tranh giành thì đông tây tứ vi lờ mờ, không lấy đâu làm chứng cứ, quan lại thì xảo quyệt, cường hào điêu toa càng dễ xoay xoả, thì lấy gì mà xử án dứt khoát, thục là bất tiện” bèn sai Thượng thư bộ Binh và Bộ Lại giữ chức Kinh lược sứ dẫn đầu một đoàn gồm nhiều đạc điền quan và thư lại vào tổ chức việc lập mới toàn bộ sổ địa bạ ở Lục tỉnh. Ngày 18 tháng Hai năm Bính Thân lên đường vậy mà 18 tháng Bảy cùng năm (1836) đã xong việc trở về tâu trình tổng số ruộng đất là 630.075 mẫu, lại phân biệt đâu là công điền, công thổ, quan điền, quan thổ, bổn thôn điền, thôn thổ, thần từ Phật tự thổ, châu phê điền, diêm điền, đồn điền, quan diền, quan xá thổ, quan viên thổ… rồi theo loài canh tác như tăng căng thổ (đất trồng dâu), ba tiêu thổ (trồng chuối), viên lang thổ (trồng cau), phù viên thổ (trồng lá tràu không)… đâu ra đây, tất thẩy gộp lại thành 484 tập địa bạ Nam Kỳ. Cả hai vị kinh lược sứ đều nhận xét rằng chủ truơng làm địa bạ này “làm vài người không vui… nhưng người thích thì nhiều!”.

    Cộng với việc khám điền và đạc điền ở vùng cựu thổ như Bắc Kỳ (4.296 tập) và Trung Kỳ (5.364 tập) đã hoàn tất việc lập địa bạ trên cả nước tuy khởi đầu từ Gia Long kết thúc thời Minh Mạng nhưng sự kéo dài chủ yếu lại do sự sâu sát của các viên thượng thư phải trực tiếp, nói như bây giờ là, chỉ đạo thực hiện trong hoàn cảnh người biết đo đạc và đủ chữ nghĩa tới từng làng quê không phải là nhiều. Đọc lại thấy số liệu đo đạc mỗi thửa không chỉ thành mẫu, sào hay thước mà còn tới đơn vị tấc, phân… Lại nữa, thửa đất nào cũng định vị đông tây nam bắc giáp đất của ai thuộc đơn vị hành chính nào đến mức sau này người Tây sang, khi bắt đầu quản lý đất đai áp dụng cách đo vẽ kiểu phương Tây hiện đại khi đọc địa bạ của người Nam phải thán phục trình độ quản lý của các triều đại Việt Nam cho dù lúc này đã trở thành thuộc địa của thực dân. Toàn quyền Đông Dương Patxkiê nổi tiếng là một nhà hành chính lão luyện phải nhận rằng cùng với một tổ chức làng xã cố kết bởi những tập quán lâu đời, cách đo vẽ quản lý đất đai tên giấy tờ của người Việt Nam đáng để người Pháp nên kế thừa một cách khôn ngoan tránh đảo lộn… đương nhiên phải phù hợp với lợi ích thực dân.

    Mới hay cái khó của ta không chỉ vì thời mới có nhiều cái tân tiến hiện đại hơn xưa và không thể như xưa những rõ ràng sự đảo lộn có phần duy y chí khước từ sự kế thừa cũng có thể là một phần lý do giải thích cho việc khó khăn trong quản lý đất đai ngày nay mà sư việc sẽ không chỉ dừng tại đó…

    XI.2007
    Dương Trung Quốc




  • Nghĩ tiếp chuyện tuần trước

    (Mon, 05 Nov 2007 04:19:36 GMT)


    Blog entry 4.11

    Báo “Thanh Niên”vẫn tiếp tục câu chuyện nhà vệ sinh học đường. Nhiều nơi đã thấy biến chuyển vội “chữa cháy”. Chắc sắp tới ông Bộ truởng sẽ có một lời nhận khuyết điểm. Vậy mà vẫn có một ông hiệu trưởng nói rằng gặp khó khăn thì phải lo cái mặt tiền trước sức đâu mà lo một lúc nhiều việc.

    Cách đây mấy kỳ họp ở nhiệm kỳ trước mình đã từng phát biểu tại QH hiện tượng các quan chức tới làm việc ở đâu cũng thấy tiền hô hậu ủng, cờ quạt, biểu ngữ, có nơi lại còn điểm binh như “đón nguyên thủ quốc gia”. Tiếp đón toàn những nơi “mặt tiền” cả. Không nói đến chuyện tốn kém, nhưng như thế thì làm sao sâu sát được. Chắc chắn ông bộ trưởng hay quan chức ngành giáo dục đến thăn các trường học chẳng ai noi cái gương của Cụ Hồ là xem nơi ăn, chốn ở, chỗ vệ sinh của dân. Đó cũng là biểu hiện của thói tệ quan liêu và thói xấu “tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại” mà nhà văn Vương Trí Nhàn với một loạt bài viết trên “Thể thao-Văn hoá” rất đáng đọc. Vì thế mà viết tiếp câu chuyên “ỉa-đái” dưới đây.

    Nghĩ tiếp chuyện tuần trước

    Bài nghĩ ngợi tuần trước vừa đăng thì gặp ngay ông quan chức của Bộ Y tế mà bài báo đã nhắc đến, tại hành lang Quốc hội khi ông tháp tùng bộ trưởng của mình đến dự phiên bàn về luật “Phòng, chống các bệnh truyền nhiễm”. Ông tiến sĩ bảo vệ đề tài “Các loại nhà tiêu trong vùng nông thôn Việt Nam” được các thày đánh giá cao vì vấn đề “giải quyết đầu ra” cho đời sống sinh học của con người là vấn đề không chỉ của Việt Nam.

    Trong bài “nghĩ ngợi cuối tuần” truớc gửi đến cho tòa soạn, có một đoạn tôi viết rằng ở “Pari hoa lệ” mới vài thế kỷ cách đây, ban đêm người dân đô thị giải quyết đầu ra vào bô rồi đến sáng hắt qua cửa sổ… khiến cho những chiếc ô của các qúy ông và qúy bà không chỉ có tác dụng che mưa nắng mà còn để đề phòng những chậu nước thải bất ngờ dội từ trên các ô cửa sổ xuống. Nhưng có lẽ các nhà biên tập của qúy báo cho đó là chuyện không thể có nên “kiểm duyệt” cắt mất. Nhưng mở lại tạp chí sử học nổi tiếng của Pháp là tờ “Historia” thấy họ không chỉ viết thế mà còn đưa ra những ảnh minh hoạ thuở đương thời vẽ cảnh trạng này với lời chú là xảy ra ở đầu thế kỷ XIX và lại có cả tranh vẽ cảnh các bà các cô trong những bộ cánh sang trọng đang vén xống áo làm ngay một bãi tè giữa đường phố trước con măt kinh ngạc của một người Anh, rất giống với cảnh một thời ở nhà quê, các bà các chị nhà ta thường mặc cai váy đụp rất tiện lợi vì kín đáo khi giải quyết việc đó ngay trên đuờng làng hay trên đường cái quan.

    Vấn đề vệ sinh đô thị từng là một vấn nạn của những xã hội phát triển trước khi loài người phát minh ra cách tiêm chủng các loại văc xin phòng ngừa những nạn dịch tiêu diệt một bộ phận không ít dân số của các đô thị. Ở Hà Nội hồi cuối thế kỷ XIX khi người Pháp đang khuếch trương phát triển đô thị thì một cơn dịch tả đã khiến chính quyền và dân cư kinh hoàng đến mức phải biến khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám thành một nhà thương dã chiến và cách ly. Chính viên toàn quyền Đông Dương Paul Bert cũng mắc dịch rồi bị chết.

    Nước nhà vừa giành được độc lập, một trong những việc quan tâm hàng đầu của cụ Chủ tịch nước là xây dựng “Đời Sống Mới”. Cụ mời anh chị em trí thức, văn nghệ sĩ xúm tay vào việc này. Trên tờ báo “Tiền Phong” của Hội Văn hoá Cứu quốc theo lệnh của Cụ Hồ, anh chị em hội viên nghiên cứu và sáng tác ra các tiêu chí về “Đời Sống Mới’ dưới dạng các câu khẩu hiệu tuyên truyền rộng khắp. Trong đó, vấn đề giải quyết nhu cầu “đái-ỉa” là điều không thể thiếu. Xin đơn cử: “một nhà ga đời sống mới phải có: nhà xí”; một chợ đời sống mới phải có “chỗ phóng uế, chỗ chứa rác”; một thành phố đời sống mới phải có “chỗ phóng uế cho thực nhiều”…

    Đến khi phải rời thành phố lên chiến khu, Cụ Hồ còn dạy cho cán bộ chiến sĩ của mình phương pháp mỗi lần đi làm việc ấy thì mang theo một cái xẻng, xong việc thì lấp đất lên vừa vệ sinh, vừa lợi đất lại vừa giữ được bí mật…

    Ông tiến sĩ “nhà tiêu” bạn tôi còn lưu ý đến một thành tựu của Việt Nam trên lĩnh vực này. Đó là cái hố xí hai ngăn. Nguyên lý cơ bản của nó là tách được nước tiểu khỏi phân và thực hiện việc ủ phân tại chỗ. Chỉ cần ủ đúng quy trình bằng các loại chất độn thích hợp nhưng rất dễ kiếm thì không những không khí không bị ô nhiễm mà chất lượng phân đem bón vừa bảo đảm vệ sinh môi trường lại trở thành một nguồn lợi lớn.

    Cái hố xí hai ngăn này với những tiện ích của nó thực sự đã cải thiện căn bản cái vẫn nạn “đổi thùng” của Hà Nội cũng như một vài đô thì khác ở miền Bắc trước khi loại hố xí tự hoại (mà thời đầu dân vẫn quen gọi là “hố xí máy”) trở nên phổ biến sau ngày miền Nam giải phóng. Tôi đã từng thấy trong một vài cuốn sách nước ngoài viết về Việt Nam đã vẽ sơ đồ cái hố xí hai ngăn để biểu dương nó như một phát minh quan trọng. Tôi đã xem Bảo tàng Thành phố London trong đó bày một cách trang trọng các loại “xí” mà người dân thủ đô nước Anh đã dùng qua mỗi thời và nghĩ rằng một ngày nào đó tại Bảo tàng Thành phố Hà Nội cũng nên xây một cái “nhà xí hai ngăn quen thuộc một thời.

    Ông bạn tiến sĩ của tôi thì khẳng định rằng đó là một phát minh quan trọng mà những nguyên lý của nó đang được một số nước kể cả một số nước tiên tiến ứng dụng trong khuynh hướng được gọi là “vệ sinh khô” nhằm ứng phó với việc nguồn tài nguyên nước ngày càng trở nên khan hiếm. Cứ làm một con tính, theo cung cách phổ biến hiện nay, mỗi một bãi đái phải tốn từ 3 đến 5 lít nước xả, mỗi một bãi ỉa thì chừng gấp đôi, tổng số nuớc đáp ứng cái nhu cầu không thể không có này lớn đến nhường nào.

    Tiến sĩ còn cho biết ngọn nguồn của “hố xí hai ngăn” này từ một cán bộ của địa phương tỉnh Quảng Ngãi (đến nay chưa xác minh được tính danh), nhưng sáng kiến này được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch rất quan tâm. Là một nhà dịch tễ học, bác sĩ Thạch nhận ra những ưu việt của giải pháp xử lý này. Lan truyền trong ngành y câu chuyện đã thành truyền thuyết là Bác sĩ Thạch luôn đặt trên bàn làm việc và trước mặt mình một cái lọ đựng thứ phân đã được ủ đúng quy cách lấy từ nhà vệ sinh của mình để chứng minh cho mọi người tác dụng của sáng kiến nọ để thuyết phục áp dụng loại nhà vệ sinh này trong đời sống…

    Tiến sĩ lại cho biết vấn đề giải quyết việc ỉa đái này cũng đựơc coi là vấn đề toàn cầu vì nó thiết thực với chất lượng sống cũng như vấn đề môi trưòng sống của con người. Ở các nước phương Tây phát triển khi đã đạt tới việc ứng dụng những kỹ thuật, thiết bị tiên tiến cho các loại nhà vệ sinh thì bắt đầu quay trở lại việc nghiên cứu theo chiều hướng bảo đảm môi trường và tái sử dụng các chất thải. Ở Thụy Điển chẳng hạn, nước tiểu ở những nhà vệ sinh công cộng đựơc góp lại vào những xtec để tái sử dụng việc trồng các sản phẩm sạch. Họ cho rằng giải pháp làm sạch rồi thải vào các nguồn nước các chất do con người thải ra là hạ sách và lãng phí… Họ còn tính toán rằng số chất có ích sản sinh từ những bãi nước đái của mỗi người thải ra đủ đáp ứng nhu cầu mà người đó cần đến trong cuộc sống.

    Cách dây hơn một thập kỷ ở Trung Quốc các nhà khoa học đã nêu vấn đề một cách nghiêm túc là “Trung Quốc cần có một cuộc cách mạng các nhà vệ sinh”, thì vào thời điểm này, khi đang tăng tốc chuẩn bị cho Thế vận hội Bắc Kinh 2008 người Trung Quốc đang tỏ rõ quyết tâm biến nó thành sự thật.

    Còn Việt Nam ta, hãy thử khởi động bằng mối quan tâm đến việc ỉa đái của con em chúng ta bắt đầu từ nhà trường và từ ngày hôm nay!

    Duơng Trung Quốc


  • Để thực hành tiết kiệm trong hoạt động của Quốc hội

    (Thu, 01 Nov 2007 03:31:59 GMT)


    Entry 30.10.2007

    Ngày thứ hai thảo luận tại phiên toàn thể (sáng 29-10) về Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ. Bấm nút từ chiều hôm thứ 7, nghĩ rằng may lắm là ngay mai thứ ba mới được phát biểu hoặc có thể không vì các đại biểu đăng ký rất đông. Không ngờ mới vào sáng nay, sau một vài người, chủ toạ đã gọi tên mình, có thể vì tỉnh Đồng Nai chưa có ai phát biểu, cũng có thể như ở nhiệm kỳ trước có một sự đặc cách nào đó… khiến mình luôn được“chen ngang”. Bên lề hội trường anh em bình luận vui: chắc có “chạy” ngầm rồi ?!

    Đây không phải là nguyên văn lời phát biểu mà là phần viết trước vì ngờ rằng nếu không có cơ hội phát biểu thì sẽ gửi văn bản. Khi nơi ở hội trường mình mở đầu bằng câu: “Tôi sẽ tuân theo lời gợi ý của chủ toạ kỳ họp là tránh nhắc lại những ý kiến người trước đã phát biểu, có nghĩa là tôi cũng sẽ không nhắc lại cái điệp khúc mà ai cũng nói là: “Trước tiên xin bày tỏ sự tán thành về căn bản hay đánh giá cao Báo cáo của Chính phủ…”. Một anh phóng viên bình luận rằng mọi người ấn tượng vì thấy mình kết thúc bài nói khớp đúng vào lúc đồng hồ đếm ngược thời gian báo “hết giờ”. Có vẻ thành “thợ”nói rồi ?! (bài này sau đó tờ Người Lao động TPHCM xin để đăng). Đặt cái đầu đề dưới dây không biết có hợp không?

    Để thực hành tiết kiệm trong hoạt động của Quốc hội

    Kỳ họp thứ hai của QH Khoá XII đã qua một tuần đầu. Như mọi lần tâm điểm là bản báo cáo của Thủ tuớng Chính Phủ. Lần này là một báo cáo viết cô đọng hơn nhưng lại phong phú hơn, đặc biệt là những giải pháp được thể hiện một cách quyết liệt hơn. Và đương nhiên, như một công thức muôn thuở, phát biểu của các đại biểu QH bao giờ cũng có một câu mở đề là “về căn bản tán thành báo cáo của Chính phủ” sau đó là những ý kiến đóng góp thêm hoặc minh họa hoặc phản biện những quan điểm của Thủ tướng.

    Nhưng nếu đặt bản báo cáo kỳ họp này với các bản báo cáo của các kỳ họp trước, thì chỉ trừ những sự kiện mang tính thời sự cả về những thành tựu tích cực hay những biến cố tiêu cực diễn ra giữa hai kỳ họp, thì những vấn đề còn lại về cơ bản không mấy khác nhau. Vả lại tiêu đề báo cáo là “tình hình kinh tế-xã hội năm 2007 và nhiệm vụ năm 2008” nhưng những số liệu cơ bản nhất đều được ghi chú là “ước tính” bởi lẽ kỳ họp luôn rơi vào thời điểm của đầu qúy tư, do vậy thực chất chỉ là báo cáo của 3 qúy đầu năm. Vả lại theo “năm tài chính” lại còn thêm một độ chênh nữa.

    QH họp xuân thu nhị kỳ tức là khoảng cách thời gian giữa 2 kỳ họp chỉ là 6 tháng, thời lượng ấy khó mà tạo ra một biến chuyển lớn làm thay đổi căn bản bức tranh toàn cảnh của tình hình kinh tế – xã hội, khó có thể phản ảnh được trong báo cáo những thay đổi rõ rệt giữa 2 kỳ họp. Do vậy mà số liệu, hiện tượng hay những giải pháp phản ánh trong báo cáo đều đều lặp lại như một điệp khúc với những tiếp ngữ: “tăng cường”, “đẩy mạnh”, tích cực”,”nâng cao”, “tiếp tục”, “đổi mới” v.v…

    Và cũng vì thế, phát biểu của các đại biểu dựa trên thực tế của địa phương, của lĩnh vực chuyên môn hay những lợi ích của mình khi phát biểu ở QH tạo nên một sự phong phú hơn về lượng, minh hoạ cho những vấn đề mà báo cáo đã bao quát hết, nhưng lại không tạo ra được những bước chuyển về chất trong nhận thức cũng như giải pháp và khó kiểm chứng được những thay đổi theo xu thế tích cực của những vấn đề mà báo cáo lần trước đã đề cập tới. Các đại biểu QH đều có tâm lý và nhu cầu chính đáng là nêu lên ở diễn đàn QH, nhất là lại có truyền hình trực tiếp, những vấn đề mà cử tri địa bàn mình đại diện đang quan tâm.

    Với thời lượng trung bình khoảng 3 ngày thảo luận ở tổ và hội trường trong mỗi kỳ họp thì có chừng trên dưới 1/4 số đại biểu QH được lên tiếng (và một số lượng ít hơn được lên hình). Ban thư ký của QH sẽ tổng hợp các ý kiến ấy và gửi lên Chính phủ, rồi Chính phủ sẽ tiếp thu để nửa năm sau lại có một bản báo cáo không mấy thay đổi, lại dàn trải thành một bức tranh toàn cảnh … Cứ như thế, không mấy vấn đề được đánh giá một cách sâu sắc để tập trung dứt điểm. Cứ như báo cáo kỳ này thì những vấn đề như giá cả leo thang, tai nạn giao thông, bức xúc đất đai khiếu kiện, ô nhiễm môi trường, tham nhũng lãng phí v.v … và v.v…vẫn là một điệp khúc song hành cùng ổn định chính trị, GDP không ngừng tăng, đầu tư ngày một nhiều, xuất khẩu khả quan, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng lên cao v.v…

    Giá như, tại mỗi kỳ họp, Chính phủ vẫn đưa ra một báo cáo tổng cảnh như những thông tin cần thiết cho QH và nhân dân được biết, nhưng dành một dung lượng tương xứng để phân tích và QH dành một thời lượng tương xứng để thảo luận một vài vấn đề mang tính thời sự một phần đang là bức xúc của dân, mặt khác nó chứa đựng nhiều thông điệp và dự báo cho những vấn đề quan trọng của đất nước…

    Thường thường những sự kiện thời sự lại chứa đựng những thông điệp quan trọng bộc lộ những tích tụ của một quá trình và chứa đựng nhiều dự báo có quan hệ đến tiến trình phát triển của đất nước. Ví như sự kiện sập cầu dẫn trong công trình xây dựng cầu Cần Thơ. Đó không chỉ là một tai nạn lao động đơn thuần do sơ suất của một quy trình xây dựng mà nó mang nhiều thông điệp quan trọng.

    Thông điệp đầu tiên như câu ngạn ngữ “đôi khi nơi tối nhất lại ở ngay dưới chân đèn”. Với một công trình được coi là cây cầu lớn nhất không chỉ của nước ta, một công trình trọng điểm của Chính phủ, lại được xây dựng bằng vốn ODA của chính phủ Nhật Bản lại do những Công ty có uy tín hàng đầu của quốc gia phát triển hàng đầu thiết kế, thi công và giám sát… Vậy mà tai nạn thảm khốc thuộc loại lớn nhất trong lịch sử xây dưng ở nước ta và có tầm cỡ thế giới lại xảy ra tại chính nơi đây.

    Kết luận cuối cùng sẽ do cơ quan điều tra của nhà nước đưa ra nhưng điều mọi người đã biết đến là tham gia xây dựng một cây cầu công nghệ cao này lại có những nhân công phổ thông chưa từng được đào tạo lại được sử dụng ngoài khuôn khổ của Luật lao động quy định. Điều đó báo động tình trạng thiếu nhân công đủ trình độ giữa lúc nguồn đầu tư ngày càng lớn các công trình xây dựng ngày một nhiều, đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng ngày một lớn. Có một thực trạng là với một quốc gia được tiếng có ưu thế về nhân lực đã nhiều lại trẻ và rẻ nữa mà hiện tại hàng năm chúng ta xuất khẩu ngót một chục vạn người đi làm lao động phổ thông ở nước ngoài kể cả đi làm “đầy tớ” cho thiên hạ, kể cả dưới danh nghĩa lấy chồng ngoại quốc, thì cũng có hàng vạn nhân công người nước ngoài được thuê đến Việt Nam làm việc ở những cương vị và nghề nghiệp có chất lượng và công xá cao.

    Lẽ ra nước ta phải có một cơ quan chuyên trách cấp cao đảm trách lĩnh vực nhân công như Bộ nhân lực ở một số quốc gia thì việc đào tạo nghề đến nay vẫn là nơi tranh chấp giữa 2 bộ Giáo dục và Lao động Thương binh và Xã hội và không ít những công ty xuất khẩu hay môi giới nhân công mà nhà nước khó lòng kiểm soát. Ta tự hào là một quốc gia có nhân công trẻ nhưng nếu mọi sự diễn ra như hiện nay thì chẳng mấy chốc sẽ đánh mất ưu thế đó, bởi lẽ đơn giản rằng ai rồi cũng phải già !...

    Sự kiện này phân tích kỹ cũng đưa ra một thông điệp là không phải cứ ODA của những nước tiên tiến là nghiêm chỉnh từ A đến Z. Vụ PMU 18 đã được phía nước viện trợ khẳng định rằng việc quản lý giám sát nghiêm chỉnh không thể thất thoát được thì vụ sập cầu dẫn cũng đáng để chúng ta đặt câu hỏi vào những kết luận này…

    Cũng tương tự như vậy, vụ “Đề án 112” không chỉ bộc lộ việc quản lý lỏng lẻo ngay trong cơ quan đầu não Chính phủ gây lãng phí và thất thoát mà còn đặt dấu hỏi vào một năng lực rất cần có của người lãnh đạo là năng lực biết lắng nghe và tiếp nhận những ý kiến của nhân dân trong đó có những trí thức khoa học nhiều tâm huyết. Rõ ràng khi phân tích những dữ kiện liên quan đến vụ việc này, người ta biết đến những ý kiến phản biện của những người có trình độ và trách nhiệm cảnh báo mà không hề được tiếp nhận khiến cho “người mất, tật mang” và gây mất lòng tin của dân chúng…

    Hậu quả khôn lường do lũ vu hồi sau cơn bão số 5 ở miền Trung hay hiện tượng bất thường của triều cường ảnh hưởng đến các thành phố lớn Nam bộ như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ… là những nguy cơ toàn cầu trước những thay đổi thời tiết do trái đất nóng lên mà lời cảnh báo của cộng đồng thế giới đã hướng vào Việt Nam là một trong những quốc gia chịu hậu quả nặng nề nhất. Mới đây, trên tấm thiệp mời của Sứ quán Anh gửi tới các quan khách Việt Nam nhân kỷ niệm ngày sinh của Nữ Hoàng còn in kèm những đoạn trích trong các văn kiện chính thức của Liên Hiệp Quốc cảnh báo về nguy cơ nước biển dâng do nhiệt độ trái đất đang tăng kèm theo lời nhắc rằng Anh quốc muốn nhân cơ hội này lưu ý với nhân dân Việt Nam… Vậy mà trong bản báo cáo lần này của Thủ tướng không hề được nhắc tới một cách tương xứng với tầm nghiêm trọng của nó và dường như chúng ta vẫn quen với tập quán “nước đến chân mới nhảy” rất phù hợp với thói quen “tư duy nhiệm kỳ” .v.v…

    Nếu như tại mỗi kỳ họp QH, Chính phủ chủ động đưa vào trong báo cáo của mình một số vấn đề được lựa chọn để cùng phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp… để rồi một vài kỳ họp sau có cơ hội đánh giá kết quả cụ thể trên một lĩnh vực cụ thể bên cạnh những vấn đề ta vẫn gọi là “vĩ mô”. Nói cách khác là Chính phủ chủ động nêu vấn đề hơn là để đến phiên chất vấn tại hội trường các đại biểu QH nêu lên và thường là không đủ thời lượng để đạt được một chất lượng như mong muốn.

    Cùng với những đổi mới của QH, thực hiện các cuộc chất vấn giữa hai kỳ họp tại Uỷ ban Thường vụ hay tại các Uỷ ban và Hội đồng của QH thì chắc chắn tình hình sẽ được cải thiện một cách tích cực hơn …

    Theo tôi, đó cũng là cách thực hiện tiết kiệm (giảm thời gian và tăng hiệu quả) trong họat động của QH.

    X.2007
    Dương Trung Quốc


  • Quốc hội điện tử là cần thiết nhưng không thời thượng, không lạm dụng

    (Mon, 29 Oct 2007 11:04:38 GMT)


    Cách đây hơn một tuần một cuộc hội thảo với chủ đề “Xây dựng Quốc hội điện tử?” đã được tổ chức tại Hạ Long. Không dự được vì vướng bài giảng ở CLB Thăng Long nhưng có gửi bài tham luận này để các đồng nghiệp tham khảo. Nhớ lại, phải đến giữa nhiệm kỳ của khoá trước, thấy anh Lân Dũng mang máy tính vào QH nhưng e ngại khi mở máy đặt lên bàn, mình bèn vác máy tính đến và cứ đặt thử lên bàn làm việc thấy chẳng làm sao, từ đó thường xuyên sử dụng máy trong giờ họp rõ ràng là năng suất công việc đuợc cải thiện trông thấy. Mọi ghi chép diễn biến ở QH đều được ghi tại chỗ, lưu vào đúng chỗ và khi sử dụng thì thật tiện lợi. ở QH không phải không có lúc cảm thấy nhàmvà buồn ngủ nữa, chiếc máy tính giúp ta khắc phục trạng thái đó…

    Đến nhiệm kỳ này mới kỳ họp thứ 2, chỉ quan sát xung quanh đã thấy vài ba người mang máy tính theo… Đương nhiên QH điện tử không chỉ là như vậy. Bây giờ thì QH mới chủ trương trang bị cho các đại biểu chuyên trách (chừng 1/3 số đại biểu), một dự án với những mục tiêu mạnh mẽ đang được triển khai… Nhưng cũng coi chừng…

    Quốc Hội Điện tử là cần thiết nhưng không thời thượng, không lạm dụng


    Không ai không cảm nhận được, công nghệ điện tử mà mũi nhọn của nó là công nghệ thông tin đã tác động và làm thay đổi thế giới hiện đại như thế nào. Dân chủ và Hội nhập là 2 định hướng cho sự phát triển của xã hội chúng ta gắn với những mục tiêu của công cuộc Đổi mới đang diễn ra ngày một mạnh mẽ. Công nghệ điện tử ứng dụng trong Quốc hội Điện tử (QHĐT) sẽ góp phần to lớn vào sự phát triển xã hội theo những định hướng trên.



    Công nghệ thông tin mang cho loài người một công cụ truyềnthôngvà giao tiếp mà trước nó không có một công cụ nào có hiệu qủa mạnh mẽ bằng. Thông tin lại chính là nền tảng của tri thức và tri thức (dân trí) lại là nền tảng của dân chủ. Bưng bít thông tin và chính sách ngu dân là những thuộc tính cơ bản của một thể chế chính trị phi dân chủ. Trong thiết chế chính trị hiện đại, Quốc hội là nơi thể hiện, cũng là thuớc đo của một nền Dân chủ. Do vậy mục tiêu xây dựng QHĐT là xu thế tích cực không chỉ tác động vào sự vận hành cơ học hay hành chính mà nó có thể làm thay đổi chất lượng hoạt động và góp phần thể hiện rõ bản chất chính trị của thể chế dân chủ thông qua vai trò và hiệu quả của thiết chế QH.



    Bản “Đề cương đề án tổng thể Ứng dụng công nghệ Thông tin trong các cơ quan QH giai đoạn 2007-2011)” (tạm gọi là QHĐT) của Ban chỉ đạo công nghệ Thông tin thuộc Uỷ ban Thường vụ QH mà cuộc Hội thảo này được triển khai như một bước tích luỹ về lý luận và học hỏi kinh nghiệm từ QHĐT của các nước đi trước là một bước đi không chỉ đúng đắn mà còn là tất yếu. Nó cần được tăng tốc cho dù mặt bằng ứng dụng trên cả hai phương diện thiết bị và kỹ năng sử dụng còn hạn chế trong hoàn cảnh điều kiện đầu tư chưa phải dư thừa.


    Là một đại biểu QH đã tham gia qua một nhiệm kỳ, cũng là một người hoạt động nghề nghiệp trên lĩnh vực truyền thông đại chúng, tôi cảm nhận được những tiện ích của việc ứng dụng công nghệ thông tin, trước hết từ nhu cầu của một đại biểu QH, thành phần quan trọng nhất (theo lý thuyết) mang tính đại diện trực tiếp do các cử tribàu ra.




    Đứng trên phương diện thông tin, vấn đề quan trọng đầu tiên của một ĐBQH là việc xác lập mối quan hệ với những cử tri của mình (bao gồm các cử tri ở đơn vị bàu cử

    đã trực tiếp tín nhiệm cũng như với tất cả cử tri trên cả nước); với hệ thống tổ chức QH (bao gồm Đoàn đại biểu QH nơi mình đại diện, với Văn phòng QH và các Uỷ ban của QH trong đó có Uỷ ban mà mình là thành viên, với Thường vụ QH và các ĐBQH trong đó có cả những người được uỷ nhiệm vào chức trách đại diện cho QH); và với các bộ máy khác trong thiết chế nhà nước (hành pháp và tư pháp)… Như thế là (về lý thuyết) trường giao diện của một ĐBQH là vô cùng lớn. Một ĐBQH để thực hiện được trách nhiệm của mình đúng như luật định sẽ phải xác lập được mối liên hệ thông tin với toàn bộ hệ thống đó.



    Nói như vậy cho dù là lý thuyêt nhưng nó là thực tế liên quan đến ngay cả trong những việc thường ngày và tối thiểu của một ĐBQH. Ví như với những lá đơn khiếu tố của dân. ĐBQH không có chức năng là người giải quyết mà là người giám sát bộ máy những cơ quan thụ lý và giải quyết bao gồm bộ máy hành pháp và cả tư pháp (từ cơ sở tới trung ương theo đúng trình tự pháp định). ĐBQH lại phải thường xuyên liên hệ với cử tri của mình (người đưa đơn) với một áp lực không nhỏ, đặc biệt là trước hiện trạng “đóng băng” trong bộ máy nhà nước cùng những phiền hà của bộ máy “hành (là) chính”. Trong một số trường hợp ĐBQH nếu biết khai thác các phương tiện truyền thông đại chúng và sự tư vấn về pháp luật từ những cơ quan của QH hay các tổ chøc, cá nhân thiện nguyện và đặc biệt với một kho tri thức trên mạng. Như vậy để thực thi trách nhiệm của mình người ĐBQH phải xác lập mối liên hệ thông tin rất rộng và cần phải có kỹ năng để vận hành nó một cách có hiệu quả.



    Từ trải nghiệm thực tế, tôi cảm nhận được một cách sâu sắc những phẩm chất hay năng lực mà một ĐBQH cần có qua một hình tượng mang tính ẩn dụ là trong mỗi ĐBQH phải có “ba trong một”hay “ba chàng ngự lâm pháo thủ”. Đó là một ĐBQH với những quyền hạn đã được luật định (kể cả quyền miễn trừ); cộng một nhà báo có năng lực tác động vào đối tuợng của mình trong đó có dư luận bằng những kỹ năng thể hiện; và một luật sư am hiểu và biết vận dụng pháp luật…



    Trình bày có vẻ ngổn ngang như vậy để chúng ta thấy rằng công nghệ thông tin sẽ giúp chúng ta được rất nhiều (tuy không phải là tất cả) những đòi hỏi trên. Có trong tay một thiết bị tốt (ví như một máy tính xách tay với những phần mềm thích hợp và các hỗ trợ thông tin mạng, ĐBQH có thể lục tìm trong các hệ thống dữ liệu trên mạng những thông tin và tri thức mình cần biết, có thể liên hệ với những người tư vấn hay giới truyền thông có thể liên hệ trực tiếp với toàn bộ hệ thống thông tin của QH đến tận từng thành viên, liên hệ với tất cả các cơ quan tư pháp và hành pháp có liên quan, bảo đảm những thông tin kịp thời với cử tri của mình. Với việc bộ luật về “Giao dịch điện tử” đã có hiệu lực, những thông tin này vừa bảo đảm những mối liên hệ cá nhân vừa bảo đảm tính chính thức đối với các cơ quan công quyền.



    Trong đề án “QHĐT” dường như mối quan tâm chính là việc xây dựng hệ thống trong QH và liên thông với ngoài QH trong đó có các cử tri. Đề án cũng đã quan tâm đến đội ngũ ĐBQH chuyên trách trong việc trang bị kỹ năng và thiết bị. Những điều đó là đúng.



    Tuy nhiên với 2/3 đại biểu QH là không chuyên trách thì Đề án chỉ đề cập tới việc hướng dẫn và đào tạo kỹ năng mà không hề đề cập tới thiết bị để có thể thực hành kỹ năng ấy. Có thể vì trong số các đại biểu không chuyên trách ấy có một số lượng khá lớn là quan chức lãnh đạo các cấp (từ trung ương tới địa phương) họ có thể sử dụng người và trang bị của bộ máy mà họ đang là thủ trưởng. Chính thực tế này cũng hạn chế phần nào năng lực khai thác công nghệ thông tin vì sự ỷ lại vào bộ máy, khiến cho trong cương vị ĐBQH những thông tin không được tiếp nhận trực tiếp mà vẫn qua một bộ “lọc”, điều đó hạn chế t­ cách ĐBQH trong một quan chức nhà nước. Và nếu



    không được trang thiết bị (cho dù có huấn luyện) thì một số không ít ĐBQH vẫn đứng ngoµi hệ thống của QHĐT, như thế là không công bằng.



    Trong khi ai cũng có thể làm một con tính cho thấy nếu ứng dụng c«ng nghệ thông tin chúng ta sẽ tiết kiệm được vô cùng nhiều vật tư, sức lực và đặc biệt là thời gian.



    Nhưng nếu sự trang bị không đồng đều thì cũng có nghĩa là hệ thống chưa hoàn chỉnh…và nẩy sinh sự khác biệt trong khả năng ứng dụng mang tính hệ thống. Theo tôi, chỉvài khoá sau, trên mặt bằng phát triển của Công nghệ Thông tin có lẽ khả tăng tiếp cận và kỹ năng sử dụng (mang tính phổ cập) đối với ĐBQH không còn là điều xa lạ (kể cả với các đại biểu vùng sâu vùng xa) nhờ hệ thống giáo dục đang đẩy mạnh phổ cập tin học hoá.



    Tuy nhiên tôi đồng ý là quá trình “Điện tử hoá” này phải được thực hiện theo một lộ trình thích hợp, tránh ào ạt theo “phong trào” mang nặng tính hình thức, thời thượng. Bài học “112” đang nóng hổi".



    Cuối cùng, theo tôi xây dựng QHĐT không có nghĩa là Điện tử hoá QH. Phải luôn coi nó là công cụ do con người sử dụng ở đây là ĐBQH và QH sử dụng. Tính ưu việt của các công nghệ cũng sẽ có ảnh hưỏng tiêu cực nếu chúng ta quá mê tín.



    Tôi lấy một thí dụ là việc “bấm nút” biểu quyết trong hoạt động của QH đã mang lại những tiện ích rõ ràng là chính xác trong định lượng và tiết kiệm rất nhiều về thời gian.



    Tuy nhiên, trừ những trường hợp bỏ phiếu kín theo luật định, thì vấn đề biểu quyết vấn là những việc làm cần công khai. Nhưng với cách bấm nút hiện nay, số liệu cuối cùng có thể là chính xác, nhưng tính “công khai” thì không còn nữa. Nếu theo trình tự biểu quyết “cổ điển” thì mọi người phải biểu lộ công khai chính kiến của mình (đồng ý, không đồng ý hay không biểu quyết), điều đó góp phần thực hiện sự giám sát của toàn quốc hội (cũng là của nhân dân) đối với hoạt động và chính kiến của từng ĐBQH.



    Nhưng với cách bấm nút hiện tại thì không ai biết chính kiến của từng ĐBQH ra sao. Cách làm này cũng khuyến khích những “tâm lý cơ hội” và sự tránh né trách nhiệm của các ĐBQH.



    Theo tôi biết, ở nhiều nước có trình độ phát triển công nghệ cao họ vẫn giữ những tập quán truyền thống khi bày tỏ chính kiến của ĐBQH (ví như ở nghị viên Anh các nghị sĩ chọn cửa ra khỏi phòng họp để bày tỏ chính kiến và ký vào biên bản, hay ở Thượng viện Mỹ vẫn duy trì xướng danh từng vị nghị sĩ và chính kiến cho mọi nguời cùng biết v.v… Tóm lại việc xây dựng QHĐT là rất cần thiết và cấp bách nhưng cũng tránh lạm dụng mà trong mọi giải pháp đều phải coi nhân tố “phát huy dân chủ” là một tiêu chí mang tính nguyên tắc.



    (Cuối cùng xin góp ý kiến ngoài lềvề thuật ngữ “không biểu quyết” hiện đang dùng. Về ngữ nghĩa thì đó là điều không thể chấp nhận trong con mắt của các cử tri. Vì ĐBQH phải có chính kiến phản ánh chính kiến của các cử tri và các cử tri sẽ giám sát đại biểu của mình qua quyết định này. Trong trường hợp mà vì những lý do nào đó vị ĐBQH thấy chưa đủ cơ sở để quyết đinh sự lựa chọn một trong 2 phương án đồng ý hay không đồng ý thì người ta thưòng goi là “phiếu trắng”. Đây cũng là một thông lệ quốc tế. Tiếp tục dùng khái niệm” không biểu quyết” theo tôi là không đúng).

    10.2007
    Dương Trung Quốc


  • Bàn chuyện ỉa - đái

    (Fri, 26 Oct 2007 06:11:48 GMT)


    Câu chuyện đựơc viết trong mục nghĩ ngợi cuối tuần này trên “Lao Động cuối tuần” góp bàn về vấn đề báo “Thanh Niên” đang mở diễn đàn sôi nổi và coi đólà “quốc sự”. Tôi nghĩ đến một vấn nạn của xã hội là sựgiả dối, ít ai dám nói thẳng vào sự thật mà “thảm trạng” nàychỉ là một biểu hiện. Vẫn cái thói “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Do vậy mà cố tình viết thật thô, bạn đọc thông cảm nhé.



    Bàn chuyện ỉa-đái



    Đặt bút viết bài này tôi cứ nghĩ ngợi mãi rằng cách dùng chữ nôm của ông bà ta để nói về hai cái việc thường ngày và là những nhu cầu tối quan trọng trong đời sống con người như thế có “tục” không? Hay là để làm cho “thanh” thì thêm từ “Hán-Việt” là “nhà vệ sinh” hay “nhà tiêu”, “đại-tiểu tiện” v.v… hay để hội nhập thì “đớpbờliu xê” (WC) rồi thì “toilit”(toilet) hay “toalet”(toilette), hay “ret run”(restroom)? Nhưng tôi cứ nghĩ đến cách của ông bà ta từng nói thẳngcoi đólà một trong “tứ khoái”nên cứ dùng đúng tên gọi dễ hiểu nhất của nó mà bàn. Vả lại bạn cứ ngẫm xem, khi những cái nhu cầu ấy có vấn đề như “ỉa táo” hay “đái rắt” thì con người ta khốn khổ đến dường nào?!



    Phải bàn vì bây giờ nó trở thành một vấn đề bức xúc trên dư luận khi tờ “Thanh Niên” mở ra cả một diễn đàn sôi nổi về tình trạng giải quyết việc đái- ỉa cho học sinh ở các trường học và Nhà thơ Thanh Thảo viết xã luận cho rằng đây là việc Quốc hội nên bàn. Tôi tán thành và ngay trong buổi thảo luận đầu tiên ở tổ bàn về báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp này tôi đã phát biểu về việc này với mong muốn mỗi kỳ họp trong chương trình nghị sự Quốc hội nên bàn đến những việc thật cụ thể bên cạnh những vấn đề ta vẫn gọi là “vĩ mô”. Ví như Quốc hội đã ra nghị quyết và có cả một chương trình to lớn để kiên cố hoá lớp học thì tại sao lai không quan tâm đến cái nhu cầu tối thiết yếu liên quan đến thể chất, tinh thần và cả với việc tiếp thu kiến thức của những học trò ngồi học trong những lớp học ấy. Hơn thế, vấn đề này cũng đáng gọi là vĩ mô vì nó liên quan đến toàn xã hội nếu chúng ta bàn rộng cái nhu cầu này ra ngoài học đường nữa.



    Các bạn có nhớ đến tác phong của Bác Hồ lúc sinh thời, khi đến thăm dân thì một trong những việc đầu tiên là vào thăm cái bếp và cái nhà vệ sinh, vì đólà hai cái yếu tố liên quan đến “đầu vào” và “đầu ra” của một đời sống. Và đócũng là nơi mà “tư duy quan liêu”của người lãnh đạo ít để tâm tới nhất.



    Có câu hỏi rằng xa xưa ông cha ta giải quyết vấn đề này như thế nào? Theo tôi có cả những truyền thống rất hiện đại đan xen với những cái rất lạc hậu.



    Bạn biết điều mà sách sử của người Pháp viết rằng ở các đô thị xưa người ta khổ vì nạn bị hắt các thứ chất thải từ trong nhà ra đường và có những người chuyên nghề dịch vụ thu gom các chất thải đóvào mỗi sớm mai, và cái dù của các qúy bà ngoài việc chống trọi với nắng mưa của Trời cũng còn dùng để che chắn những rủi ro ô uế đó (!?). Không biết cái thông tin kia chính xác đến đâu nhưng điều chắc chắn là văn minh của người Trung Hoa (đúng hơn là của nền văn minh lúa nước của người Việt ở phía Nam sông Dương Tử) thì lại rất sớm quan tâm đến vấn đề ỉa-đái. Bởi lẽ đólà một nguồn phân bón vô cùng đắc dụng đối với truyền thống canh tác của họ. Nơi để giải quyết việc này mà người Trung Hoa gọi là “xí sở” (nhà xí) đã trở thành một phần trong kiến trúc, sang hèn, tiện nghi khác nhau tuỳ gia cảnh nhưng mục đích sử dụng nó là một tập quán có thể là sớm nhất và cũng đáng gọi là văn minh nhất trên trái đất(!?).



    Người Việt Nam chúng ta cùng chung một nền văn hoá lúa nước do vậy từ xa xưa việc tận dụng các chất thải của con người đã trở thành tập quán. Tuy vậy có lẽ do khí hậu, hay những thói quen mà trong không gian cư trú và kiến trúc mãi về sau này dân ta mới quan tâm đến việc xây nhà xí trong vườn (thường là những hố được quây lại cho kín đáo). Nơi giải quyết xưa kia là ngoài không gian cư trú của mình, do vậy trong ngôn ngữ mớicó cách diễn đạt: đi ngoài, đi đồng (ra đồng), đi cầu (thải xuống nước ao hay sông) rồi diễn dịch đến “cái thú chỉ đứng sau quận công” v.v… Nhu cầu năng suất cây trồng cũng kích thích việc tận thu và tận dụng các chất thải sinh học của con người để làm chất bón nông nghiệp hay cả thức ăn cho cá (cá tra ở Nam Bộ)… Các nhà sinh học cho biết các chất trong nước tiểu và phân nếu được xử lý cẩn thận có chất lượng rất cao mà không biết tận dụng sẽ là một sự lãng phí rất lớn…



    Vấn đề nẩy sinh khi các đô thị hình thành. Việc giải quyết nhu cầu ỉa - đái của thị dân và khách vãng lai đã trở thành một vấn đề xã hội. Thói quen của nếp sống thôn quê trong không gian đô thị trở thành một vấn đề nan giải. Có lẽ lời răn “cấm đái bậy !” là câu viết xuất hiệnphổ biến nhất trên tường những ngôi nhà ở Hà Nội. Tôi cứ nhớ mãi cái bức hình biếm hoạ đăng trên tờ “Phong Hoá” vẽ cảnh bác L?ý Toét (nhân vật điển hình cho mẫu người “nhà quê ra tỉnh” đang ?vénquần xả ngay vào chân tường trên đócó dòng chữ “Cấm không được đái” đang lý sự với ông “đội xếp” đòi bắt phạt rằng: “Cứ theo cách cổ truyền (với chữ Hán) phải đọc từ phải sang trái thì dòng chữ này có nghĩa là “đái được không cấm” cớ sao thày đội lại bắt phạt tôi ?!”



    Cái lý sự “quê ra tỉnh” ấy khiến cho vấn nạn đái bậy tồn tại đến tận bây giờ. Đọc báo thấy ở Thành phố Hồ Chí Minh có các bạn thanh niên tình nguyện tham gia các tổ chuyên “nhắc nhở” những người làm cái việc bất đắc dĩ này.



    Nhưng chúng ta cũng biết đến những giải pháp đáp ứng cho nhu cầu này hình thành cùng với sự ra đời các đô thị.Những người có tuổi như tôi vẫn còn ấn tượng về những chiếc xe bò sơn đen với những chiếc đèn dầu le lói và những người “phu đổi thùng” tối tối đến gọi cửa từng nhà để lấy chất thải ra và đưa đồ đựng vào các nhà xí thường xây nơi khuất nhất trong nhà. Đúng là cách làm thiếu vệ sinh nhưng rất triệt để. Số phân ấy được chuyển ra ngoại thành bán cho những người cần mua về để bón ruộng.Lại có những làng ven đô sống bằng nghề đi mót phân ở đô thị . Với những đồ nghề đơn giản là những chiếc thúng lót sơn ta, những chiếc gầu bằng sắt tây và những động tác rất thiện nghệ họ nhặt nhạnh tất cả những sự bữa bãi ngoài phố thị đem về quê bán hoặc dùng vào việc có ích… Rồi ở Hà Nội có ông Năm Diệm thầu việc đổi thùng lại phát kiến ra công nghệ đóng bánh phân khô xuất khẩu cho những đồn điền trong và ngoài nước mà trở nên giàu có v.v…



    Đúng là một thiên lịch sử về chuyện đái- ỉa có thể nghĩ ngợi mấy tuần cũng không hết. Nghĩ rồi sẽ nẩy ra nhiều điều bổ ích.… Viết đến đây chợt nhớ đến một anh bạn nay đang làm một chức to trong Bộ Y tế đã từng bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “nhà xí ở Việt Nam”. Đểkỳ nghĩ ngợi cuối tuần tới ta sẽ bàn tiếp về những di sản truyền thống liên quan đến chuyện đái – ỉa quan trọng này…

    X.2007

    DươngTrung Quốc




  • Trời đất cho ta một cái tài

    (Mon, 22 Oct 2007 11:24:42 GMT)




    Cách đây gần 4 năm, gặp một thiếu tướng công an quê ở huyện Kim Sơn (Ninh Bình), ông nặng lòng với một danh nhân đã lập nên làng quê của mình nên gặp tôi đề nghị đưa vào chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân” của Hội Sử làm tượng cụ Nguyễn Công Trứ.

    Rất may, hậu duệ của Uy Viễn tướng côngở ĐàLạt còn một bức tranh thờ chân dung. ít lâu sau, nghệ sĩ điêu khắc Tạ Duy Đoán đã nặn xong một mẫu tượng được mọi người ưng ý rồi mang về đúc ở một cơ sở vùng Ý Yên (Nam Định). Tượng được rước về Kim Sơn trong không khí lễ hội tưng bừng và cảm động nhất là cả dân lương và giáo, cả sư và linh mục đều ngưỡng vọng hành lễ. Sau đókhông lâu do việc mở rộng con đường phía trước nên ngôi đền (vốn là sinh từ dân dựng từ khi Ngài còn sống) được nhà nước đầu tư lớn, đến nay rất khang trang. Còn ông thiếu tướng sau đóđược phong trung tướng và thêm nhiều chức vụ quan trọng khác.

    Một vị doanh nhân thuộc cỡ đại gia quê ở Tiền Hải (Thái Bình) cũng cảm cái nghĩa với người đã khai phá quê hương mình bèn đầu tư về sửa sang đền thờ rồi cũng rước một bức tượng Ngài về để dân thờ phụng. Vị đại gia này có một thời ốm đau thập tử nhất sinh, nay lại khoẻ mạnh tiếp tục kinh doanh ngày một lớn.

    Cuối cùng, một lần về làm việc tại Hà Tĩnh ghé thăm quê của Nguyễn Công Trứ ở huyện Nghi Xuân, thấy địa phương đã có khu di tích đại thi hào Nguyễn Du, lại vừa được Bộ Văn hoá đầu tư tôn tạo gần như mới đền thờ Nguyễn Công Trứ ao ước có một pho tượng để thờ Ngài. Chẳng bao lâu sau pho tượng đã hoàn thành với công sức nhiều người trong đócó một bị bộ trưởng đồng hương với Ngài vừa được thăng Phó Chủ tịch Quốc hội.Thế là cả ba vị cùng nhân dân quê hương Nghi Xuân hớn hở ruớc Ngài về quê để sang năm cùng kỷ niệm 230 năm ngày sinh (1778-2008) và 150 năm ngày mất (1858-2008) con người tài hoa và lỗi lạc, một mẫu người rất hiện đại :

    “Chơi ra chơi mà làm ra làm”…

    Mục “Nghĩ gợi cuối tuần” trên “Lao Động cuối tuần” mới đây đăng bài này. Phô ra trên blog để các bạn cùng đọc.

    “Trời đất cho ta một cái tài…”

    Suốt cả một tuần chỉ nghĩ đến một điều, tại sao mình lại có sự lầm lẫn đến mức “nghĩ ngợi cuối tuần” của tuần trước viết về Nguyễn Trường Tộ mà ở giữa bài có đến 2 lần viết nhầm thành “Nguyễn Công Trứ” (?!) Hai con người này lại là hai tính cách rất khác nhau, mỗi người ra đời ở một bên bờ của con sông Lam. Một người quê ở Nghệ An theo đạo, sống chỉn chu canh cánh những ý tưởng canh tân mong đất nước vượt được những thử thách trước cuộc xâm lược của ngoại bang. Cònmột người ở Hà Tĩnh thì lãng mạn cả trong hành động lẫn tư tưởng lại chết ngay khingoại bang nổ súng xâm lăng (1858). Nhân đây xin lỗi bạn đọc vì sự nhầm lẫn ở kỳ trước !

    Cái nhầm lẫn ấy có thể là vì công việc của mấy tuần trước đólà lo việc đặt một bức tượng đồng Nguyễn Công Trứ vào ngôi đền mới trùng tu ngay tại quê hương của Ngài, tại Uy Viễn, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Cách đây đã 4 năm, một bức tượng đồng Nguyễn Công Trứ đã được đúc và đặt tại ngôi đền thờ ở huyện Kim Sơn, mảnh đất mà chính Uy Viễn tướng công đã thành công khi lấn biển, khai hoang, lập ấp để góp thêm một huyện cho tỉnh Ninh Bình. Đólà một huyện phát triển trù phú cho đến ngày nay, ứng với cái địa danh biểu thị sự giàu có là “vàng chất thành núi”. Rồi mới đây tượngNgài cũng lại được rước về thờ tại một huyện tương tự ở tỉnh Thái Bình mang địa danh là “tiền nhiều như biển” (Tiền Hải). Nay đến lượt quê hương của Ngài. Tất cả để chuẩn bị cho sang năm (2008) sẽ tròn kỷ niệm 230 năm ngày sinh và 150 năm ngày mất của Nguyễn Công Trứ (1778-1858).

    Điều đáng nói là các ngôi đền này đều được dân lập ra khi Nguyễn Công Trứ còn sống mà người xưa gọi là : “sinh từ”. Ai đọc sử đều biết rằng chỉ mất có 2 năm mà vị Doanh điền sứ này đã lập ra được 2 huyện (Tiền Hải 1828, Kim Sơn 1829) ; và lại còn biết thêm rằng chính Nguyễn Công Trứ đã từng cầm quân theo lệnh triều đình “đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân” trong đócó cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành. Cũng vì vậy mà có thời người ta đặt dấu hỏi nghi vấn cho cái lý lịch“trích ngang” mà theo quan điểm giai cấp thì quy kết “phản động” là chính xác.

    Là một trung thần Nguyễn Công Trứ theo lệnh vua để bảo vệ chế độ là điều không có gì để bình luận thêm. Nhưng điều đáng nói là chính vì phải đánh dẹp những người nông dân mất đất, vì lầm than mà làm loạn, nên Ngài đã tìm ra phương cách để mong dẹp được loạn bằng phép thuật “an dân”. Chính từ chỗ nhận ra lối thoát cho người nông dân mất ruộng mà vị doanh điền sứ đã xin triều đình cho được lấn biển khẩn hoang lập ấp trên những vùng đất bồi cửa sông để an dân phú quốc.

    Trong bản điều trần “Khẩn hoang để yên nghiệp dân nghèo” gửi lên triều đình, Ngài viết : “Đời làm ăn xưa, chia ruộng định của, dân có nghiệp thường cho nên ở yên làng mạc, không có gian tà… Ngày nay, những dân nghèo túng, ăn dưng chơi không, khi cùng thì họp nhau trộm cướp, cái tệ không ngăn cấm đựơc… Nếu (nhà nước) cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn, nhà nước không phí tổn mấy mà cái lợi tự nhiên sẽ đến vô cùng. Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng,không bấu víu vào đâu đều đưa cả về đấy. Như thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng, phong tục kiêu bạc lại thành thuần hậu”

    Vua Minh Mạng chấp thuận và Nguyễn Công Trứ lại chọn chính vùng đất dữ vốn là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành làm nơi thực thi cái ý tưởngđược gọi là “quy hoạch từ lòng dân”. Ngài đã đưa ra những chính sách cụ thể từ việc tổ chức những người nòng cốt, thưởng phạt nghiêm minh, khai thác kinh nghiệm dân gian, quan tâm đến đời sống tâm linh, phong tục tập quán và với tài trí của người biết nhìn xa trông rộng mà 2 năm lập được 2 huyện mang lại ấm no yên ổn cho người dân. Dân lập sinh từ thờ Ngài là vì vậy. Soi lại đời nay, dường như việc quy hoạch chỉ trông vào vốn đầu tư mà sao nhãng “quy hoạch lòng người” nên những dự án trở nên vô hồn, dễ gây mầm loạn … và đôi khi tên tuổi những người có trách nhiệm quy hoạch trở thành vết hoen trong tâm thức của người dân…

    Hôm tổ chức lễ khánh thành đền thờ và tượng Ngài ở Nghi Xuân, có một vị quan chức đứng bên cạnh,khi nghe ngành văn hoá trình bày tiểu sử và công nghiệp của Nguyễn Công Trứ, cứ tấm tắc: “Người xưa tài thật !”.

    Sau buổi lễ, ông giảng giải với tôi rằng 2 năm lập nổi 2 huyện đã là ghê. Làm đã giỏi mà chơi cũng giỏi mới là tài. Ngài chẳng tự vịnh “Trời đất cho ta một chữ tài – Giắt lưng dành để tháng ngày chơi”. Làm thì ra núi vàng biển bạc cho dân, chơi thì ra cả một cáithú để đời.Lãng tử đến mức nói ra miệng “Nhân sinh bất hành lạc – Thiên tuế diệc vi thương” (Người mà không mưu sự khoái lạcthì dẫu sống ngàn năm cũng như chết non). Vậy mà xong một đời vẫn thực hiện được cái chí “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông”. Làm quan mà được dân thờ mới là “thánh”.

    Những ai đọc kỹ tiểu sử của Nguyễn Công Trứ thì biết rằng, trong đời làm quan, Ngài đã trải nhiều chức vụ từ tri huyện rồi tổng đốc ở các địa phương đến lang trung, tư nghiệp Quốc Tử Giám, thị lang rồi đến thượng thư ở kinh đô… nhưng không phải cứ tuần tự từ thấp đến cao mà có tới 5 lần bị giáng chức, có lúc cách vài ba cấp, có lúc cách tuột xuống làm lính trơn… Thế mà rồi vẫn làm nên nghiệp lớn. Tiểu sử của Ngài cho biết năm 1843 tức là khi đã 65 tuổi bị cách làm lính thú, vậy mà chỉ 4 năm sau (1847) khi đã mấp mé tuổi “cổ lai hy” lại được cất nhắc lên làm đến Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên rồi sau đó mới hưu trí…

    Về việc này, vị quan chức nọ lại tấm tắc : Ngày xưa “công tác tổ chức” hay thật. Cách rồi có tài vẫn lên được, có thế mới dám làm dám chịu, chứ bây giờ thì đã cách là… tuột luôn !.

    Dương Trung Quốc

  • 2008 - Trăm năm bóng đá Việt Nam

    (Tue, 16 Oct 2007 09:43:45 GMT)


    Nhớ hồi tháng 7 mới rồi, giữa lúc lần đầu tiên đội tuyển bóng đá của chúng ta “vượt vũ môn” lần đầu tiên được lọt vào vòng tứ kết mà lại là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á, tôi đã viết một bài báo nhỏ lưu ý những người yêu bóng đá và Liên đoàn Bóng đá Việt Nam VFF) rằng chỉ sang năm, năm 2008 theo hiểu biết của tôi sẽ là tròn 100 năm bóng đá Việt Nam ra đời! Không mấy dư luận quan tâm. Lại nhớ cách đây 5 năm, tôi cũng đã viết trênVietnamNet những thông tin tương tự, VFF đã vào cuộc và đưa ra một đề án biên soạn Lịch sử bóng đá VN và giao cho danh thủ Ngô Xuân Quýnh cựu tuyển thủ của Đội Thể Công thời vàng son và có mời tôi làm tư vấn. Hai anh em đã có một vài khởi động trao đổi với mấy anh nhà báo lão thành trong ngành (như bác Tú Hào, Lam Sơn…) hiểu biết về bóng đá VN cũng như tham khảo một vài quyển sách còn rất mỏng… Rồi VietnamNet làm thử một “không gian bóng đá” ở tiền sảnh của tòa báo sưu tập các hiện vật và hình ảnh liên quan đến lịch sử bóng đá VN…

    Nhưng rồi mọi việc cũng không tiến triển được bao lâu thì anh Ngô Xuân Quýnh đột ngột từ trần, VFF lại thay đổi nhiệm kỳ. Trong Đại hội, cũng thấy vẫn nhắc đến mục tiêu biên soạn lịch sử bóng đá được nêu ra từ nhiều nhiệm kỳ trước, gặp tôi các anh lãnh đạo mới vẫn nhắc khéo rằng mục tiêu ấy không có gì thay đổi cả… Nhưng đến nay vẫn hình như chưa có hiệu lệnh để “trận đấu” lại tiếp tục. Cái “không gian bóng đá” ở VietnamNet nay cũng không còn. Vậy mà, theo nhận thức của tôi thì dịp Kỷ niệm trăm năm bóng đá VN đã gần kề. Đó là năm 2008. Vậy thì căn cứ vào đâu mà lấy thời điểm này làm cái mốc lịch sử ?

    Bóng đá ra đời ở châu Âu rồi nó lan toả khăp thế giới. Đến nay người ta vẫn nhận nước Anh là “tổ nghề” cho dù Trung Hoa thời cổ đại đã có những trò chơi dân gian cũng có thể gọi là bóng đá. Nhưng cái tiêu chí quan trọng nhất khiến cho quê hương bóng đá thuộc về nước Anh là vì ở đây đã ra đời luật lệ và tổ chức liên quan đến bộ môn thể thao này và nhờ đó nó nhân rộng thành một phong trào và nhanh chóng truyền bá ra khắp thế giới và từng bước hình thành các giải đấu từ nhỏ đến lớn.

    Vì thế để xác định được “bóng đá Việt Nam” ra đời khi nào, cần đưa ra được những tiêu chí để làm cơ sở cho sự lựa chọn. Nếu lấy thời điểm “trái bóng da lăn trên lãnh thổ nước ta” thì có thể là cuối thế kỷ XIX khi cộng đồng người Âu có mặt ở nước ta khá đông đảo (vì VN đã trở thành thuộc địa của nước Pháp). Giao thương đã đưa nhiêu con tàu châu Âu đến các cửa biển VN. Chính những cộng đồng người Âu này tổ chức những trận đá banh đầu tiên và lập ra những đội bóng đầu tiên (dưới hình thức câu lạc bộ). Rải rác trên báo chí đương thời có những tin tức về các trận bóng đá mà thời điểm sớm nhất có người phát hiện là năm 1897 (như thế là đến 2008 là 111 năm).

    Và chắc chắn đã có những những người VN say mê thú chơi này tham gia vào các CLB của người Pháp, nhưng để ra đời một CLB có nhiều người VN tham gia thì người ta biết đến sự ra đời của CLB “Thể thao Gia Định – Gia Dinh Sport” thành lập năm 1906 (như thế là đến năm 2008 này khoảng cách thời gian đã là 102 năm).

    Đội Sport Gia Dinh có thể có những trận đá với các CLB của người Tây và điều đó có thể là sự khích lệ ra đời các CLB khác của người “bản xứ”. Và tư liệu còn giữ lại được cho biết đến một trận giao đấu giữa hai đội bóng “thuần Việt” là Đội Phú Mỹ gặp Đội Chợ Đũi vào ngày 20-7-1908 (tỷ số là 2-0). Tham gia dự các cuộc giao lưu này còn có đội Tân Định (Stade annamite Tan Dinh) Như thế nếu tính từ sự kiện này được coi là cái mốc đầu tiên của bóng đá VN với tiêu chí là “ trận cầu thuần Việt” thì đến năm 2008 này vừa tròn 100 năm !

    Và nếu chọn năm 2008 là sự kiện Bóng đá VN 100 năm thì kèm theo đó là những cái mốc thời gian gắn liền với nhiều sự kiện trong lịch sử bóng đá Việt Nam :

    80 năm trước, 1928, một số người Việt Nam thoát ly khỏi Tổng cuộc Bóng đá (là tổ chức chủ yếu của người Pháp ở Đông Dương để thành lập “Tổng cuộc Thể thao Việt Nam”, tiếp đó đưa một đội bóng đá VN lần đầu tiên xuất ngoại sang Tân Gia Ba (Singapore) để giao hữu thì năm 2008 này tròn 80 năm.

    75 năm trước, năm 1933, có một sự kiện thể thao được báo chí bình luận sôi nổi. Đó là trận đấu, có thể là lần đầu tiên, giữa 2 dội bóng đá…nữ. Đó là trận Đội nữ Cái Vồn đấu với Đội nữ Xóm Chai tại Cần Thơ ngày 2-7-1933. Với sự kiện này thì sang năm 2008, bóng đá nữ VN đã có tuổi của bà lão 75.

    Như thế thì năm 2008 có thể là một năm quan