hunting (User)
Expert Boarder
Posts: 117
|
|
Tạp chí phía trước 8 Months ago
|
Karma: 2
|
Ngòi bút của tri thức - Tinh thần của tuổi trẻ
-
(Wed, 09 Apr 2008 12:24:09 GMT)
Cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc trên 30 năm nhưng rất nhiều sự thật sau nhiều năm khuất trong bóng tối đến nay mới dần dần được tiết lộ.
Những đội quân tham gia chiến tranh Việt Nam được nhiều người biết đến nhất là:
Bên phía Cộng Sản miền Bắc: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - Quân đội chính qui của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Giải Phóng Miền Nam – Giải Phóng Quân – du kích thuộc Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Ngoài ra có sự tham gia chi viện về người, phương tiện và vũ khí của các nước đồng minh cộng sản như Liên Xô, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba, Lào, Campuchia.
Bên phía Cộng Hòa miền Nam: Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Quân lực Hoa Kỳ và các nước đồng minh khối Tư Bản chủ nghĩa như Hàn Quốc, Thái Lan, Phillipin, Úc, New Zealand.
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều đạo quân khác cũng tham gia chiến ở cả hai phía, nhưng do vô tình hay cố ý lại không thường xuyên được nhắc tới. Họ trở thành những binh đoàn bị lãng quên. Nhưng sự thật lịch sử vẫn luôn là sự thật lịch sử, dù muốn hay không theo thời gian cuối cùng cũng dần được hé lộ và cần phải được tôn trọng.
***
Liên Xô trước đây luôn phủ nhận việc đưa quân tham chiến chống lại Mỹ tại Việt Nam và các cựu binh từ Việt Nam trở về không được ghi nhận bất cứ công trạng gì. Chỉ sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ, nước Nga mới thừa nhận khoảng 3.000 sĩ quan Liên Xô đã tham chiến tại Việt Nam. Lúc đó, họ chủ yếu sang Việt Nam với tư cách chuyên gia, và làm nhiệm vụ cố vấn, huấn luyện cho quân đội Bắc Việt mà không được coi là đã trực tiếp chiến đấu. Báo “Nước Nga ngày nay” và đài truyền hình Novosti mới đây đưa tìn vào ngày 16/2/2008 vừa qua, một số cựu chiến binh Liên Xô đã họp mặt để kỷ niệm 35 năm ngày quân Mỹ rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Sau nhiều năm bị quên lãng, nay họ muốn được nhìn nhận là các cựu chiến binh một cách công khai và được ghi nhận là đã thực thụ chiến đấu trên chiến trường Việt Nam. Cụ thể, sĩ quan Liên Xô đã hỗ trợ rất nhiều cho không quân và lực lượng phòng không của Bắc Việt, gây thiệt hại nặng cho Mỹ. (1),(2)
Về phía các đồng minh Cộng Sản khác, trong khi Trung Quốc từ lâu công khai thừa nhận đã gửi hàng vạn quân lính và công binh sang giúp quân Bắc Việt thì Bắc Triều Tiên mãi đến năm 2001 mới thừa nhận có khoảng 200 phi công đã được gửi sang Hà Nội chống lại các đợt không kích của Mỹ (2). Lào và Campuchia cũng cho quân đội Bắc Việt mượn lãnh thổ để tạo nên đường mòn Hồ Chí Minh đánh vào miền Nam.
Thượng Nghị Sĩ McCain, hiện đang ứng cử viên hàng đầu của Đảng Cộng Hòa trong cuộc chạy đua Tổng Thống Mỹ, mới đây đã đưa ra một tuyên bố gây nhiều tranh cãi. Trong một cuộc vận động tranh cử, McCain nói rằng ông và những người lính Mỹ khác khi bị giam trong nhà tù Hỏa Lò tại Hà Nội, đã từng bị hỏi cung và tra tấn, thậm chí có tù nhân Mỹ bị giết bởi một người Cuba. Đây cũng là điều Thượng Nghĩ Sĩ McCain từng viết trong cuốn hồi ký của ông và được nhiều cựu binh xác nhận. Thậm chí, nhằm tranh thủ phiếu bầu của các cử tri gốc Cuba lưu vong, ứng cử viên Tổng Thống Mỹ này còn hứa hẹn sẽ bắt giữ và truy tố nhân viên quân báo người Cuba này. Những lời nói của McCain ngay lập tức bị mạnh mẽ bác bỏ và phê phán gay gắt bởi cựu Chủ tịch Cuba Fidel Castro và các viên chức ở Việt Nam. (3),(4)
Fidel Castro đã từng có một câu nói nổi tiếng: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Thế nhưng, sự dính líu của Cuba trong cuộc chiến tại Việt Nam đến nay vẫn còn nằm trong vòng bí mật.
***
Khác với phe Cộng Sản, những tài liệu nói về sự tham gia của các nước đồng minh hỗ trợ quân Mỹ tại Việt Nam thường được công khai ngay từ đầu hoặc sau đó đã được giải mật. Tuy nhiên, vẫn có những chiến binh bị người Mỹ quên lãng và bỏ rơi.
Suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, CIA đã tuyển dụng hàng nghìn người dân tộc thiểu số Hmong để chiến đấu chống lại quân Cộng Sản trong các vùng rừng núi. Cuộc chiến đã kết thúc nhiều năm nhưng những cựu binh Hmong và gia đình của họ vẫn phải sống lẩn khuất trong các khu núi rừng. Những người này không dám trở về với xã hội văn minh khi chính quyền Cộng Sản Lào hiện vẫn coi họ là kẻ thù.
Theo một cuộc điều tra do “Thời báo New York” tiến hành, nhóm người Hmong này bị cô lập, nghèo đói và luôn ở trong tư thế bị săn đuổi. Cứ sau một vài tuần, họ lại di chuyển địa điểm cư trú để trốn tranh sự truy lùng của người Lào. Sống cách xa các đồng ruộng và thị trấn, buổi đêm những người Hmong, trang bị súng AK-47, thường đột nhập vào các nông trang để cướp lấy thức ăn và các đồ dùng khác. Những bộ trang phục nhà binh và súng ống của người Hmong là chiến lợi phẩm họ thu được từ quân đội Lào sau một cuộc đọ súng năm 1999.
Trong những năm gần đây, những chiến binh Hmong nhận được sự chú ý nhiều hơn khi các tổ chức nhân quyền đưa ra các bản báo cáo lên án chính quyền Lào tấn công những người trước đây từng hợp tác với quân Mỹ. Nhiều người Hmong tin rằng chính phủ Mỹ phải chịu trách nhiệm và nên giúp đỡ họ. “Chúng tôi muốn nước Mỹ cho chúng tôi một nơi để sống”, ông Va Chang – cựu chiến binh 60 tuổi nói, “Nếu người Mỹ không muốn làm điều đó, họ nên trút một trái bom lớn xuống chúng tôi và giúp chúng tôi kết thúc cuộc sống khốn khổ này”.
Kể từ năm 1975 sau khi những người Cộng Sản lên nắm chính quyền tại Lào, đã có khoảng 250.000 người dân đất nước này sang tị nạn tại Mỹ. 115.000 trong số đó là người Hmong. (5)
Tâm Thiện (tổng hợp và biên dịch)
(1)http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/20/Were_there_Russian_troops_i...
(2)http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/02/080217_foreignveteransv...
(3)http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/21/Cuban_and_Russian_intellige...
(4)http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/02/080211_castro_torture.s...
(5)“Vietnam” (Weider History Group)
-
(Sun, 06 Apr 2008 21:08:23 GMT)
 Người Việt Nam ưa chuộng xe máy nhưng từ xưa đến nay vẫn coi mũ bảo hiểm là một vật dụng khó chịu và không đẹp mắt. Trong nhịp sống hối hả của thủ đô Hà Nội, thời trang nay đã chịu nhường bước cho sự an toàn. - Kay Johnson (TIME)Một trong những thay đổi lớn nhất và gây ảnh hưởng sâu rộng nhất trong xã hội Việt Nam thời gian qua đó là qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Tạp Chí Phía Trước xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phóng sự tổng hợp của tạp chí “Time” (Mỹ) trước và sau ngày qui định này có hiệu lực tại Việt Nam.
Hàng ngàn chiếc xe máy lao vun vút và cua gấp tại những góc phố khiến cho những người khách lạ từ xa đến cảm thấy kinh sợ những con phố của thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, giới trẻ Việt Nam lại coi việc phóng xe máy nhanh trên đường phố là một thú vui bất tận. 8h tối, cô Trịnh Thanh Vân – 19 tuổi ra khỏi nhà trên chiếc xe Honda Wave màu đỏ, đèo hai người bạn gái ở đằng sau. Ba cô gái phóng xe len lỏi giữa những dòng xe cộ tấp nập, vừa đi vừa ngóng tìm những người bạn khác. Đó là một buổi tối “lượn lờ” thường ngày của họ, và cũng là một sở thích hàng đêm của giới trẻ Việt Nam. Họ vừa dạo chơi vừa trò chuyện, và trưng diện những bộ đồ hợp mốt. Thế nhưng, một vật dụng đi kèm với chiếc xe máy là mũ bảo hiểm thì Vân và những người bạn sành điệu của cô lại bỏ quên. Nhưng họ không phải là ngoại lệ. Vào thời điểm cuối năm ngoái, xe máy chiếm 90% lượng phương tiện lưu thông trên đường phố Việt Nam nhưng chưa đến 10% người điều khiển đội mũ bảo hiểm. Trong một cuộc trò chuyện bên lề đường, Hà - một người bạn của Vân, nói: “Chúng tôi coi mũ bảo hiểm là thứ không hợp thời trang. Khi những cô gái đội mũ bảo hiểm, sẽ không còn ai nhìn thấy những kiểu tóc đẹp và những nét trang điểm hấp dẫn nữa.” Đó là câu chuyện cuối năm 2007. Còn giờ đây, những người đi xe máy ở Việt Nam đã không còn lựa chọn nào khác khi vào ngày 15/12, một đạo luật mới bắt đầu có hiệu lực, qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Đạo luật này đánh dấu một đổi lớn trong xã hội Việt Nam, cũng là một nỗ lực của những người lãnh đạo ở đất nước Cộng Sản này nhằm giảm thiểu lượng tử vong do tai nạn giao thông. Theo thống kê, đã có khoảng 14.000 người Việt Nam chết vì tai nạn giao thông trong năm 2006, 80% trong số đó do những chấn thương ở phần đầu.  Cả nhà đội mũ bảo hiểm (Vnexpress)Chiếc xe máy là biểu tượng của quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam suốt 20 năm qua. Cải cách kinh tế tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tư nhân. Đã thành thông lệ, món đồ đầu tiên mà một gia đình mới phất lên chọn mua luôn là một chiếc xe máy cáu cạnh. 15 năm trước, chỉ có 500.000 chiếc xe ở Việt Nam; hiện nay, con số này đã tăng lên thành 22 triệu. Sự phổ biến của xe máy ở Việt Nam đi kèm với một cái giá phải trả. Bên cạnh lượng tử vong, mỗi năm có 23.000 người chịu những tổn thương về não do tai nạn. Theo Quỹ Phòng Chống Thương Tật Châu Á (AIPF), những ca chấn thương này hoàn toàn có thể tránh được nếu người gặp tai nạn đội mũ bảo hiểm vào thời điểm đó.Bất chấp nguy hiểm, hầu hết người Việt Nam trong những năm qua vẫn tránh né không dùng mũ bảo hiểm. Người đi xe máy luôn than phiền rằng đội mũ bảo hiểm, ở Việt Nam còn có tên khác là “nồi cơm điện”, rất nóng và không thoải mái, thậm chí còn cản trở tầm quan sát khi thực hiện cua gấp. Nhiều người dân đã từng hoài nghi rằng chính phủ khó có thể đưa luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm này vào thực thi. Sáu năm về trước, chính quyền đã từng thông qua một sắc lệnh tương tự nhưng sau đó phải hủy bỏ trước sự chống đối của người dân. Trên thực tế, với một thể chế độc đoán như ở Việt Nam, chính quyền còn rất nhiều việc phải làm để củng cố luật lệ giao thông. Ví dụ như những người đi xe máy ở đây thường vượt đèn đỏ và ít quan sát xung quanh khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng Việt Nam vẫn quyết tâm thực thi luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Hàng ngàn cảnh sát giao thông đã được tăng cường và triển khai khắp cả nước, sẵn sàng xử phạt những người vi phạm ở mức 200.000 VND (khoảng 13$). Mức phạt này bằng ¼ thu nhập bình quân hàng tháng của người Việt Nam, và tương đương với giá tiền mua một chiếc mũ bảo hiểm. Chính quyền cũng phát động một chiến dịch tuyên truyền rộng lớn trên TV chiếu những hình ảnh thảm khốc của các nạn nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông. AIPF chọn một hướng đi khác. Họ quảng cáo mũ bảo hiểm như một trang phục hợp thời trang. Các công ty, chi nhánh của AIP gới thiệu sản phẩm “mũ bảo hiểm vùng nhiệt đới”, thiết kế chiếc mũ với quạt gió, kèm theo những mẫu hoa văn và kẻ sọc trang trí. Hoa hậu Việt Nam 2006 Mai Phương Thúy cũng tham gia chiến dịch tuyên truyền này. Cô xuất hiện trên các poster quảng cáo, đội chiếc mũ bảo hiểm có kính chắn gió. Những biển báo yêu cầu đội mũ bảo hiểm cũng đồng loạt xuất hiện hầu như mọi góc phố.  Công an xử phạt người vi phạm luật giao thông (Ảnh VNExpress)Vậy nhưng, thái độ của người dân có vẻ chưa thể thay đổi trong một sớm một chiều. Vân đã từng bị tai nạn hai lần và may mắn không bị thương nặng. Cô hiểu rằng mũ bảo hiểm là cần thiết, nhưng vẫn miễn cưỡng: “Bây giờ tất mọi người đều đội mũ bảo hiểm, nên tôi cũng vậy”. Vân chỉ đơn giản là chấp nhận thực tế mà thôi. Vì vậy, trên đường phố Việt Nam hiện nay, lực lượng chuyên xử phạt người vi phạm không đội mũ bảo hiểm còn đông hơn cả cảnh sát làm nhiệm vụ điều khiển giao thông. Chính Tâm (biên dịch)
-
(Tue, 01 Apr 2008 11:50:26 GMT)
Quyền tự trị của một dân tộc là bất khả xâm phạm theo luật quốc tế ! Thế nhưng, hơn nửa thế kỉ qua, người dân Tây Tạng phải lưu vong khắp nơi trên thế giới để tránh sự đồng hóa nền văn hóa và tàn sát của chính quyền Trung Hoa. Hàng loạt cuộc biểu tình trước thềm Olympic của người Tây Tạng, được hưởng ứng bởi cộng đồng thế giới, khẳng định ước muốn, ý chí từ bao đời nay của người Tây Tạng đòi lại quyền tự trị …
Đất nước Tây Tạng được biết nhiều nhất qua cái tên gọi nóc nhà thế giới cho dãy núi Hymalayas với đỉnh núi Everest 8850m. Gần đây địa danh này đã trở thành đề tài nóng khi Tập đoàn Tân Hiệp Phát với nhãn hiệu Number One đã tài trợ một nửa kinh phí trong tổng số 60 tỉ của chương trình do Công ty cổ phần Lasta thực hiện để tài trợ một cuộc thi chinh phục ngọn núi này bởi các chàng thanh niên Việt.
Ngoài ra, Tây Tạng còn được biết đến qua mẩu chuyện kỳ thú Tintin xứ Tibet, mà anh phóng viên Tintin cùng với chú chó Milou là hai nhân vật chính đã dẫn dắt người đọc vào cuộc chinh phục nóc nhà của thế giới Himalaya để cứu người bạn Trung Quốc mà anh đã có dịp làm quen qua tập truyện "Bông Sen Xanh", Tchang.
Tây Tạng còn được biết đến qua hình ảnh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 "Đăng-châu Gia-mục-thố", hiện thân của Bồ Tát Quan thế Âm, và là người được giải Nobel Hòa Bình 1989 vì sự đấu tranh cho tự do cho Tây Tạng bằng con đường bất bạo động. Ngài đã ủng hộ giải pháp hòa bình dựa trên tinh thần khoan dung và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài sản văn hóa của con người. Kể từ năm 1967 Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bắt đầu chuyến du hành khắp nơi trên thế giới để kêu gọi sự ủng hộ của các nguyên thủ, các nhà ngoại giao, những nhân vật nổi tiếng trong việc đòi lại một nước Tây Tạng với nền văn hóa đặc trưng đầy bản sắc dân tộc.
Lịch sử Tây Tạng
Người ta biết rất ít về Tây Tạng trước thế kỷ 17, mặc dù tiếng Tạng liên hệ một cách chặt chẽ với các ngôn ngữ thuộc nhóm Tạng-Miến và cũng có liên hệ với tiếng Hán.
Theo truyền thuyết vào thế kỷ 14, Mani Bka' 'bum, người Tạng ra đời từ sự hợp nhất của một con khỉ và một hòn đá quỷ. Con khỉ là một kiếp đầu thai của Avalokiteśvara (tiếng Tạng là Spyan ras gzigs, phát âm như xen-re-zik), còn gọi là Quan Âm trong Phật giáo tại Đông Á, hay vị Bồ tát của lòng từ bi. Hòn đá quỷ là một kiếp của Bồ tát Tara (tiếng Tạng là 'Grol ma phát âm như là drol-ma).
Tây Tạng là một đế quốc hùng cường từ giữa thế kỷ 7 và thế kỷ 10. Tây Tạng cấu thành một dạng xã hội đặc biệt, trong đó đất được chia thành 3 kiểu làm chủ khác nhau là bất động sản của các gia đình quí tộc, đất trống tự do và bất động sản của các tu viện, đặc biệt là trong các bộ phái Phật giáo. Sự phân chia này tăng lên sau sự suy yếu của các triều vua Tây Tạng trong thế kỷ 10. Dạng xã hội này đã tiếp tục cho tới thập niên 1950, lúc đó hơn 700.000 người làm nghề nông trong tổng số 1,25 triệu dân.
Trong thế kỷ XIII, Tây Tạng đã bị sáp nhập vào đế quốc Mông Cổ. Những người cầm quyền Mông Cổ đã chấp nhận cho phái Phật giáo Tây Tạng Shakya quyền lãnh đạo tại đó vĩnh viễn. Theo sau đó là giai đoạn trung gian của các triều đại trong 300 năm. Mông Cổ một lần nữa xâm chiếm vào đầu thế kỷ 16 và tuyên bố dòng dõi Phật còn lại là những Đạt Lai Lạt Ma sẽ là người nắm chính quyền chính thức.
Đầu thế kỷ XVIII, Trung Quốc thiết lập quyền để có các cố vấn chính quyền thường trú gọi là amban, ở Lhasa. Khi người Tạng nổi dậy chống lại Trung Quốc năm 1750 và giết amban, quân Trung Hoa đã tiến vào lãnh thổ này và đặt lại một amban mới, nhưng hằng ngày chính quyền Tây Tạng vẫn tiếp tục quản lý quốc gia như trước.
Năm 1904, Anh gửi một lượng lớn quân đội người Ấn để chiếm Lhasa, buộc Tây Tạng phải mở cửa biên giới với British India. Hiệp ước 1906 với Trung Hoa lập lại các điều kiện biến Tây Tạng thành xứ bảo hộ thuộc về Đế quốc Anh.
Sau năm 1907, một hiệp ước mới giữa Đế quốc Anh, Trung Quốc và Nga công nhận quyền của Trung Hoa ở Tây Tạng. Trung Hoa thiết lập quyền lực lần đầu tiên vào năm 1910. Mặc dù vậy, điều này không tồn tại lâu vì quân Trung Hoa phải rút về nước để chiến đấu trong cuộc cách mạng 1911, để lại cho vị Đạt Lai Lạt Ma lúc đó một cơ hội tái lập quyền kiểm soát. Năm 1913, Mông Cổ và Tây Tạng ký hiệp ước và ra tuyên bố chung công nhận lẫn nhau và độc lập với Trung Hoa.
Năm 1914 một hiệp ước được bàn thảo ở Ấn Độ với sự tham dự của đại diện Trung Hoa, Tây Tạng và Anh: Hiệp định Simla. Trong đó, quyền thống trị của Trung Hoa lên Tây Tạng và Khu tự trị Tây Tạng đều được công nhận, ngoài ra, biên giới điều đình giữa Anh-Ấn và Tây Tạng đã rất có lợi cho Anh. Hiệp ước này đã được kí kết riêng lẻ giữa Anh và Tây Tạng. Mặc dù vậy, phía Trung Hoa đã từ chối ký kết vì cho rằng nó đã nhượng bộ quá nhiều. Trung Hoa chưa bao giờ công nhận bản hiệp ước này và cũng như các ranh giới tạo ra bởi nó, do đó, tạo ra một cơ sở cho việc tranh cãi giữa Ấn Độ và Trung Hoa ngày nay về vùng Arunachal Pradesh.
Hậu quả của sự bùng nổ Thế chiến I và cuộc nội chiến Trung Hoa là nguyên nhân làm cho các thế lực Tây phương và Trung Hoa mất đi sự chú ý đến Tây Tạng. Do đó, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 của Tây Tạng lên nắm quyền mà không bị ngăn cản, phá rối. Trong thời gian này thì Tây Tạng kiểm soát tất cả Ü-Tsang (Dbus-gtsang) và miền tây Kham (Khams) trùng hợp một cách ngẫu nhiên với các biên giới của vùng tự trị Tây Tạng ngày nay.
Cả Trung Hoa Dân Quốc lẫn Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đều không chịu từ bỏ việc xác định chủ quyền lên Tây Tạng. Năm 1950, Quân đội Nhân dân giải phóng tiến vào Tây Tạng tiêu diệt quân đội non trẻ của Tây Tạng và phá hủy khoảng 6.000 chùa chiền. Năm 1951, Kế hoạch giải phóng hoà bình cho Tây Tạng, một hiệp ước được ký bởi sức ép của Trung Quốc lên các người đại diện của Đại Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma, đặt nền thống trị kết hợp bởi Trung Quốc và Tây Tạng.
Trong khi đó, vào năm 1956 miền Đông Kham và Amdo đã nổ ra các cuộc kháng chiến và cuộc chiến này đã lớn rộng ra ngoài vùng. Cuộc kháng chiến này được ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ có lúc đã đến tận Lhasa. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, một cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử của Tây Tạng tại thủ đô Lhasa để kêu gọi binh lính Trung Quốc phải rút khỏi Tây Tạng và tái xác định rằng Tây Tạng là một quốc gia độc lập. Cuộc biểu tình ôn hòa này đã bị bẻ gãy một cách tàn nhẫn bởi quân đội điên cuồng Hoa lục. Kết quả của cuộc xâm lăng này đã giết chết hàng triệu người Tây Tạng vô tội và phá hủy 6 ngàn chùa chiền tại Đất nước này. Để tìm con đường giải phóng nỗi khổ đau ấy, 80.000 người dân Tây Tạng cùng với Đạt-lại Lạt-ma 14 vượt qua dãy Hymalayas dãy Hy Mã Lạp Sơn để đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ vào năm 1959. Các cuộc kháng cự riêng lẻ còn tiếp diễn trong Tây Tạng cho đến 1969.
Trung Quốc đã đặt Ban Thiền Lạt Ma, một người được cộng đồng quốc tế xem là tù nhân ảo, làm nhân vật lãnh đạo Lhasa, và tuyên bố rằng ông ta là người đứng đầu hợp pháp của chính quyền Tây Tạng với sự vắng mặt của Đạt Lai Lạt Ma, ngưòi lãnh đạo truyền thống của chính phủ. Năm 1965, phần đất U-Tsang và miền Tây Kham vốn thuộc quyền điều khiển của Đạt Lai Lạt Ma từ thập niên 1910 đến 1959 đã được đặt thành vùng tự trị. Trong thời gian cách mạng văn hóa, Hồng vệ binh đã hủy hoại nhiều di sản văn hóa trong toàn nước CHNDTH bao gồm cả các tài sản Phật giáo ở Tây Tạng. Trong số hàng ngàn tu viện, chỉ còn một ít nguyên vẹn không bị hủy hoại, và hàng ngàn tăng ni Phật giáo đã bị giết hoặc bị cầm tù.
Các nguồn tin đưa ra về số người Tây Tạng bị giết từ 1950 rất khác nhau. Con số ước tính thấp nhất là của Warren W. Smith làm từ các báo cáo dân số cho là vào khoảng 200,000 người Tây Tạng đã mất tích
Các cuộc đổi mới đã bắt đầu sau cuộc viếng thăm của Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung quốc Hồ Diệu Bang đến Lhasa vào 1980. Hầu như tự do tôn giáo đã bắt đầu chính thức phục hồi nhưng một số sư và ni cô vẩn còn bị bỏ tù, và hàng ngàn người Tạng lúc đó còn tiếp tục bỏ trốn hàng năm.
Chính phủ Tây Tạng lưu vong cho rằng hàng triệu người Trung Hoa nhập cư vào vùng TTTT là để đồng hóa người Tạng thông qua văn hóa và thông qua các cuộc hôn nhân dị chủng. Các nhóm Tạng lưu vong cho rằng mặc dù có nỗ lực bề ngoài để phục hồi văn hóa nguyên thủy Tây Tạng nhằm thu hút khách du lịch, thì lối sống truyền thống Tây Tạng bây giờ đã hoàn toàn bị thay đổi. Chính phủ CHNDTH đã phủ nhận cáo giác này, chỉ ra các quyền cho người nói tiếng Tạng trong giáo dục và trước toà án cũng như là các đề án xây dựng cơ sở hạ tầng cộng cộng đã nâng cao rất nhiều đời sống của người Tạng và cho rằng đời sống người Tạng đã được nâng cao một cách vượt bậc so với thời của Đạt Lai Lạt Ma trị vì trước năm 1950.
Tây Tạng 2008
Nỗi đau mất nước, ước vọng mong muốn trở về sinh sống tại quê hương của người dân Tây Tạng sau hơn nữa thế kỷ lưu lạc trên khắp thế giới đã bùng lên mạnh mẽ hơn lúc nào hết khi Trung Quốc thắng cuộc trong cuộc chạy đua tổ chức thế vận hội 2008. Họ biết rằng đây là cơ hội lớn để lên tiếng với thế giới về sự ngang nhiên chiếm đóng của chính quyền Trung Quốc cũng như sách lược đồng hóa dân tộc Tây Tạng với nền văn hóa Trung Quốc.
Ngay từ đầu tháng 3/2008, một số người Tây Tạng lưu vong đã bắt đầu cuộc tuần hành 6 tháng từ Ấn Độ, khởi hành từ thị trấn Dharamsala, và dự định đặt chân tới biên giới Tây Tạng đúng dịp khai mạc Olympic Bắc Kinh.
Ngày 10/3/2008- kỷ niệm 49 năm ngày nổi dậy, 2 ngàn nhân viên An ninh Trung quốc ra tay trấn áp sau khi đoàn sư sãi, từ 500 đến 600 người, xuống đường hô to các khẩu hiệu đòi tự do, độc lập cho đất nước và nhân dân Tây Tạng đồng thời yêu cầu trả tự do cho các đồng tu bị bắt trong cuộc biểu tình một ngày trước đó. Tu viện Drepung bị phong tỏa với sự tăng cường của cảnh sát vũ trang xung quanh các chùa tại Lhasa. Khoảng 71 người bị bắt, đa số là tăng sĩ.
Trong khi đó, tại thủ đô Kathmandu của Nepal, ít nhất 1000 người Tây Tạng lưu vong đã đụng độ với cảnh sát khi họ tìm cách đi tới tòa đại sứ Trung Quốc.
14/03/2008 bất chấp áp lực đến từ phía công an, khoảng từ 300 đến 400 nhà sư Tây Tạng cũng đã rời tu viện tiếp tục cuộc tuần hành phản đối chính quyền Trung Quốc. Công an Trung Quốc đã nã súng vào đoàn biểu tình, làm ít nhất 2 người thiệt mạng.
15/03/2008 Chính phủ Trung Quốc vẫn duy trì lệnh giới nghiêm ở Lhasa. Tân Hoa Xã phổ biến từ Bắc Kinh cho biết trong vụ xáo trộn xảy ra ở Lhasa ngày hôm trước, có 10 người chết bao gồm 8 người bị chết cháy và 2 người bị bắn. Văn phòng chính phủ lưu vong Tây Tạng ở Dharmsala cho biết nghe được tin con số người thiệt mạng có thể lên đến cả trăm người, và kêu gọi Liên Hiệp Quốc can thiệp, buộc Trung Quốc phải chấm dứt ngay tức khắc cuộc đàn áp nhắm vào người dân Tây Tạng.
Nam tài tử nổi tiếng Richard Gere, một tín đồ Phật Giáo nhiệt tình ủng hộ cuộc tranh đấu của người dân Tây Tạng là người đầu tiên lên tiếng kêu gọi thế giới tẩy chay Olympic Bắc Kinh. Ông cũng tin rằng cuộc nổi dậy của người dân Tây Tạng trong những ngày vừa qua chỉ là những tiếng kêu khởi đầu và sẽ không bao giờ chấm dứt, nếu nhà cầm quyền Bắc Kinh tiếp tục chính sách mà ông gọi là "khắc nghiệt".
Trong lúc các nhà lãnh dạo Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ðức và Úc đều nhắc lại ý kiến là Trung Quốc nên đối thoại trực tiếp với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, báo chí khắp nơi cũng đã lên tiếng bầy tỏ quan điểm trước sự kiện đang được cả thế giới quan tâm đến.
Các cộng đồng người Tây Tạng cư ngụ ở nước ngoài vẫn tiếp tục những cuộc biểu tình ngay trước sứ quán và tòa lãnh sự Trung Quốc, để bày tỏ, chia sẻ với người thân của họ đang sống ở quê nhà, và khẳng định với thế giới rằng dù đang sinh sống ở bất cứ đâu, ước mơ độc lập luôn là ước mơ chung của những người Tây Tạng.
Quế Hương
*Bài viết sử dụng các tư liệu về Tây Tang, Đức Đạt Lai Lạt Ma tại wikipedia http://vi.wikipedia.org, cũng như các thông tin của BBC, RFA liên quan đến các cuộc tuần hành, xuống đường www.bbc.co.uk
-
(Tue, 25 Mar 2008 14:05:10 GMT)
Mến chào các bạn độc giả,
Phía trước đã quay lại với tất cả chúng ta sau một tháng vắng bóng, qua những bài báo số 11 !
Các bạn tìm thấy trong số này phảng phất những nét hoài cổ, vấn vương những nét văn hóa thời xưa vẫn âm ỉtrong lòng đất nước đang hiện đại hóa từng ngày, qua mẩu chuyện giữa « ông già đạp xích lô và cô gái ». Đi cùng với tâm trạng hồi niệm ấy, là những tài liệu về những đạo quân đã tham gia trong chiến tranh Việt Nam bên cạnh những quân đội được nhiều người biết đến, mà do vô tình hay cố ý không được nhắc tới : « Những đạo quân bí mật trong chiến tranh Việt Nam » ở mục lịch sử lần này tiết lộ ít nhiều về những đạo quân bị lãng quên ấy.
Trở lại với hiện tại, cuộc sống vẫn nhiều bức xúc ! « Chợ tình Tây đen », « Lá thư từ Hà Nội » phản ánh một góc nhỏ của cuộc sống ấy. Những bức xúc được chia sẻ với những người dân của Trung Quốc trước thái độ thờ ơ của chính quyền TQ với cuộc sống ở niềm quê, khi « hành chính » ở những vùng này thì xa hoa, đối lập với cảnh bần cùng của người dân.
Trong cuộc sống ấy, chúng ta vẫn ước mơ hi vọng, tiếp niềm tin cho những người dân Tây Tạng đang khao khát đòi lại quyền tự trị đã bao lâu bị chính quyền TQ dành lấy (« Tây Tạng trước mùa Olympic »). Tác giả bài « Bầu cử Tổng thống Mỹ 2008 nhập môn » chờ đợi một ngày thấy Việt Nam có những cuộc bầu cử dân chủ như thế. Có lẽ, cần phải nhìn lại vai trò của mối quan hệ « Tổ quốc, chính phủ và công dân » (mục Chính trị) theo một cách khác hơn hiện nay để có thể biến những ước mơ ấy thành hiện thực ?!
Mỗi bài báo không chỉ dừng lại ở việc tạo cho người đọc « hỉ, nộ, ái, ố » mà chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó làm bạn thật sự phải suy nghĩ và phản ứng lại.
Xin mời các bạn chia sẻ cùng Phía trước những suy nghĩ của mình  về các bài trong số 11 qua phần comment tại entry này ! 
Cảm ơn các bạn,
-
(Sat, 01 Mar 2008 18:16:16 GMT)
Web mở cửa thế giới cho thanh thiếu niên Trung Quốc, nhưng làm xói mòn truyền thống - Peter For*- Bắc Kinh – Phấn khích và háo hức bởi lượng thông tin họ có thể tìm thấy trên Internet, thanh thiếu niên Trung Quốc đang vứt bỏ hàng thế kỷ truyền thống, thách thức thầy cô giáo và bày tỏ ý kiến trong lớp. Người dùng Internet ở Trung Quốc. Mặc những chiếc quần bò có thêu tên những siêu sao bóng đá châu Âu, tải hàng tuần những tập phim “Prison Break”, nghe “50 cent” (tên một ca sĩ nhạc rap), đọc truyện hài Nhật Bản, thế hệ học sinh trung học ở Trung Quốc đang nhanh chóng hòa nhập vào nền văn hóa quốc tế.Điều đó đã cho lớp trẻ những ý tưởng mới. Những ý tưởng mà một ngày nào đó, có thể thay đổi cách thức chính phủ đang vận hành.Sun Yun Sao, phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu thanh thiếu niên Trung Quốc phát biểu “Internet đã cho trẻ em Trung Quốc mọc thêm cánh.”Nhiều em đã dùng những đôi cánh này để phản đối cách thức học và chương trình các em phải học, và thách thức những người có trách nhiệm. Zhao Hongxia, thầy giáo tại một trường tư ở Bắc Kinh, nói “Bây giờ, những sinh viên hỏi bạn “tại sao?”, và nếu bạn không có câu trả lời tốt, họ sẽ không đồng ý với những gì bạn nói. Thời của tôi, nếu thầy giáo nói điều gì, ông ta luôn luôn đúng.”Tony Hu, một học sinh cấp III ở Bắc Kinh nói : “Thế hệ “sau 90” rất khác so với các thế hệ trước. Chúng tôi có rất nhiều cách để đón nhận thông tin. Thế hệ trước chúng tôi không biết gì khác ngoài việc học.”Lời nhận xét này có thể khó nghe, nhưng ông Sun, nhà nghiên cứu về Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc, đồng ý với nhận xét này.Ông nói “Những đứa trẻ “sau 90” tự tin hơn và có nhiều kinh nghiệm hơn, chúng dũng cảm hơn và sẵn sàng cho mọi thử thách, kể cả với những người lớn tuổi hơn. Lý do là vì chúng có Internet để học hỏi, và vì chúng du lịch khắp nơi. Chúng có nhiều cách để tăng cường hiểu biết.”137 triệu người dùng mạng Internet tại Trung QuốcViệc sử dụng Internet tại Trung Quốc đã bùng nổ trong những năm gần đây, và tại tuyến đầu của cuộc cách mạng này là thanh niên, những người khao khát nếm trải cuộc sống bên ngoài biên giới của nước họ. Năm 1999, có 4 triệu người dùng Internet tại Trung Quốc; cuối năm ngoái, con số là 137 triệu.Nghiên cứu vào năm ngoái của ông Sun cho biết hơn 70% trẻ em Trung Quốc từ 7 đến 15 tuổi đã dùng Internet ít nhất một lần. Con số này tăng gần 50% so với năm 2005, và tổng cộng tăng 87% khi chỉ tính trẻ em sống ở thành thị. Hiện nay, hơn phân nửa số trẻ em thành thị có Internet tại nhà.Điều đó cho chúng cơ hội mở ra những chân trời mới mà thầy cô giáo không chỉ ra. Jenny Li, người huấn luyện cho các thầy cô giáo tại một trường trung học ở Bắc Kinh nói rằng “Tôi đã học từ sách vở, những đứa trẻ bây giờ học từ cả thế giới.”Cô Zhao cho rằng điều đó khiến việc dạy dỗ trẻ em khó khăn hơn. Cô phàn nàn “Chúng không tập trung trong lớp, bởi vì chúng đã biết quá nhiều. Thầy cô giáo cũng phải mở rộng đầu óc của chính họ hơn.”Nếu Zhao, người đã đi dạy được 6 năm, cho rằng rất khó để dạy tốt những sinh viên của cô, những thầy cô giáo nhiều tuổi hơn còn gặp khó khăn nhiều hơn. Yan Ming, thầy giáo trẻ ở trường chuyên số 1 của thành phố Tianjin cho rằng “Nhiều giáo sư trên 40 tuổi cảm thấy khó khăn và không thoải mái khi sinh viên có rất nhiều kiến thức mới, và sinh viên cũng ít tập trung hơn.”Giáo viên cũng phải đối phó với chương trình đổi mới giảng dạy. Một loạt cải cách từ năm 1997 đã thay đổi kiểu giáo dục ở Trung Quốc từ học vẹt sang kiểu giáo dục ở phương Tây, với việc nhấn mạnh suy nghĩ độc lập.Ông Wang Wu Xing, giáo sư tại Viện giáo dục Bắc Kinh, nói “Chúng tôi đang chuyển từ kiểu học lấy thầy làm trung tâm sang kiểu lấy sinh viên làm trung tâm. Nếu chúng tôi muốn có những tài năng hàng đầu, chúng tôi cần hàng triệu óc tò mò và óc phê phán, óc sáng tạo. Thế hệ mới sẽ phát triển khả năng nghiên cứu, tìm hiểu.”Tại nơi thí điểm kiểu dạy này – trường trung học số 1 Tianjin, nơi dạy học sinh trình độ lên tới cấp đại học. Năm nay, trường này đang thí điểm chương trình giảng dạy lịch sử phá vỡ mọi nguyên tắc truyền thống. Lần đầu tiên, ông Yan nói, học sinh được phép viết bài luận về lịch sử mà không đồng ý với kết luận trong sách giáo khoa về ý nghĩa chính trị, chẳng hạn như phong trào Nghĩa Hòa Đoàn chống lại chế độ thuộc địa.Yan giải thích “Nếu học sinh lập luận tốt, chúng sẽ có điểm tốt.” Tuy nhiên, bài kiểm tra lịch sử này chỉ mới được áp dụng tại một trong ba trường trong khu vực. Ông nói thêm rằng “Để những câu trả lời này có thể được chấp nhận trong kì thi quốc gia vào đại học, chúng ta phải đợi xem.”Ông Wang Zhangmin, cựu giáo viên lịch sử tại trường nói “Kì thi này rất căng thẳng cho những sinh viên mong muốn vào những trường đại học hàng đầu Trung Quốc. Rất ít sinh viên dám “xé rào” vì sợ đánh mất cơ hội.”Nỗi sợ hãi này là một cái phanh cho việc đổi mới. Giáo viên tại trường Tianjin, nơi tự hào vì có tỉ lệ học sinh cao nhất vào được những trường nổi tiếng, nói rằng áp lực nặng nề đến nỗi những sinh viên tài năng vẫn rất sợ hãi khi nói ý kiến khác với giáo viên hoặc phải tìm hiểu những chủ đề ngoài sách giáo khoa.Ở những trường bình thường cũng vậy, giáo viên không khuyến khích học sinh tìm hiểu ngoài chương trình.Xi Haixin, học sinh 17 tuổi ở một trường trung học tại Bắc Kinh, nói “Chúng em không có nhiều tranh luận trong lớp. Thỉnh thoảng chúng em muốn tranh luận về một đề tài nào đó, nhưng thầy giáo có quá nhiều điều phải dạy trong sách giáo khoa nên thầy bỏ qua đề tài tranh luận.”Xi cũng biết rằng việc tranh luận là khó khăn trong một lớp có hơn 50 học sinh, trường hợp phổ biến ở Trung Quốc.
 Một quán internet cafe ở Trung Quốc“Người Nhện 3”: đã xem rồiXi nói ngay cả khi thầy cô giáo không hài lòng với việc lướt web, Internet đã thay đổi chính em và thế hệ của em. “Bây giờ, tôi là một phần của xã hội quốc tế”. Em cũng kể ra Miami Heat là đội bóng rổ ưa thích nhất, rhythm and blues (R&B) là loại nhạc ưa thích nhất, và “Người Nhện 3” là bộ phim hay nhất mà em đã từng xem thời gian gần đây. “Những đứa bạn cùng tuổi em luôn nghe cùng một loại nhạc và xem cùng một bộ phim.”Thầy giáo Wang Zhangmin nói “Vì sinh viên bây giờ học nhiều từ văn hóa nước ngoài, họ cảm thấy họ được toàn cầu hóa và quốc tế hóa hơn.”Thế hệ toàn cầu này sẽ thay đổi Trung Quốc đến đâu là chủ đề tranh luận của những người quan tâm tới thanh niên.Tony Hu hồ nghi “Tôi không chắc là chủ nghĩa cá nhân của chúng tôi có thể thay đổi điều gì xung quanh. Truyền thống Trung Quốc đã được xây dựng từ nhiều năm. Và nếu chúng tôi không thể thay đổi môi trường xung quanh, môi trường xung quanh sẽ thay đổi chúng tôi. Chúng tôi phải tồn tại.”Nhà nghiên cứu Sun Yun Xiao hi vọng nhiều hơn : “Ý thức tham gia việc xã hội của những đứa trẻ “sau 90” rất lớn”. Ông cũng chỉ ra rằng “Ý thức dân chủ mạnh hơn, và đó là xu thế tất yếu.”Tại trường trung học số 1 Tianjin, Yan Ming đang đợi và nhìn : “Nếu những đứa trẻ này thật sự có cơ hội để suy nghĩ khác đi, kết quả sẽ giống như ở phương Tây. Chúng sẽ năng động hơn, tự giải quyết vấn đề tốt hơn, và đơn giản rằng chúng sẽ không làm những gì người khác bảo chúng phải làm.”*Peter Ford, báo Người phát thanh khoa học Thiên chúa giáohttp://news.yahoo.com/s/csm/20070514/ts_csm/ochinakids_1 Nam Sơn biên dịch© Tạp chí Phía Trước
-
(Thu, 28 Feb 2008 08:01:28 GMT)
Ai từng nghe những bài hát mộng mơ về Đà Lạt ắt hẳn không thể nào cản ngăn ý nghĩ tự mình khám phá khung cảnh ấy, nhất lại vào mùa Tết- “Nghe hơi giá len vào hồn người chiều Xuân mây êm trôi…”. Hành trình của chúng tôi bắt nguồn từ cảm hứng ấy…
Những khám phá dọc hành trình
Chúng tôi khởi hành từ Nha Trang, theo quốc lộ 1A để đến Ba Ngòi- Cam Ranh. Từ địa danh Trại Cá của thị xã Cam Ranh, thuộc xã Cam Thịnh Đông, nếu đi vào thành phố Phan Rang- Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận chỉ còn khoảng 40km.
Tôi theo quốc lộ 27B để đi lên Đà Lạt. Cũng tại điểm này, vào năm 2005, đã xảy ra một vụ tai nạn thảm khốc của một chiếc xe chở sinh viên đi từ Đà Lạt về bị xe lửa tông ngay tại Trại Cá. Sự việc lại gần đúng vào dịp gần Tết, thế nên trong chuyến xe tử thần hôm ấy chỉ toàn là sinh viên học ở Đà Lạt, trên đường về quê ăn Tết.
 Hai người đồng bào dân tộc Raglai đang địu củi về làng trên quốc lộ 27B Chúng tôi chọn cung đường này mà không phải là quốc lộ 27 vì con đường này đi ngang qua huyện Bác Ái của tỉnh Ninh Thuận, nơi có đông đảo bà con Raglai cư trú, họ sống rải rác dọc theo quốc lộ 27B cho đến gần ngã 3 Ninh Bình của huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Gọi là quốc lộ vì nó đi ngang qua thị xã Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà và huyện Bác Ái thuộc tỉnh Ninh Thuận. Mới xong mùa mưa, thế nên hai hàng cây ven đường xanh tươi tốt lá, chứ nếu đi vào mùa nắng thì cả khu vực này chỉ toàn là một màu vàng cỏ cháy, từng cơn gió nóng thổi vào làm rợn cả người. Ấy thế, cái tên Phan Rang được người dân địa phương ở đây cắt nghĩa là "gió như Phan và nắng như Rang", âu cũng có cái lý của nó.
Chạy theo đường 27B, hai ven đường nhà cửa thưa thớt, chỉ toàn là sỏi và đá. Những dãy núi đá hiện ra trước mắt chúng tôi, có những đoạn đường xe chạy xuyên ngang qua giữa một ngọn núi, đó là những hoành sơn đâm nhào ra biển cả. Vào mùa này có nhiều cây mui, một loại cây cỏ dại, khẳng khiu, thân nhỏ chỉ độ khoảng bằng ngón tay út của chúng ta. Ấy thế, loại cây này rất hợp với những vùng đồi núi nhiều sỏi đá, ít phì nhiêu màu mỡ. Lá cây này được người đồng bào Raglai ở đây dùng để cầm máu. Cây có bông màu trắng, trắng cả dãy núi. Nó cùng với hoa mai đã điểm tô, báo hiệu mùa xuân cho cả dãy núi rừng và vùng đất khắc khổ ở nơi đây.
Chợt nhớ, ngày xưa cứ mỗi lần hoa mui nở thì nó báo hiệu mùa xuân sắp về, Tết sắp đến. Trên con đường tôi đi học, nhìn lên núi thấy trắng bạt ngàn hoa mui. Cùng theo thời gian, sự tàn phá môi sinh, phá rừng làm rẫy của dân ta, màu trắng của hoa mui đã không còn nữa. Thay vào đó là những cái rẫy với những màu sắc khác nhau, chỗ thì xanh tươi của màu lá cây sắn nước, chỗ thì đậu…nhưng đến mùa khô thì cả vạt núi đều là những vệt màu loang lổ. Nó giống như chiếc áo rách rưới được may vá từ nhiều mảnh vải màu khác nhau vậy. Bây giờ, đâu đó trên ngọn núi ven đường tôi đi học ngày xưa chỉ còn thấp thoáng một nhóm trắng của những bụi mui làm tôi tiếc nuối thời tuổi thơ của mình.
Ở đây, đồng bào Raglai tập trung khá đông, theo thống kê thì có đến hơn 50% dân số. Ngoài ra, họ còn ở một số vùng của tỉnh Khánh Hoà và một phần tỉnh Bình Thuận. Trước đây, người Raglai du canh du cư, sau này dưới chính sách định canh định cư, họ tập trung lại không đi đây đó phá rừng làm rẫy nữa. Kinh tế sống chủ yếu phụ thuộc vào núi rừng, săn bắt, hái lượm, khai thác tài nguyên rừng, nương rẫy, mở mang nghề thủ công và trao đổi lâm sản.
Bắp và lúa chính là nguồn lương thực chủ yếu. Gia súc, gia cầm được nuôi thả trong vườn đáp ứng một phần lương thực và phục vụ trong những ngày lễ Tết.
Nhà cửa họ ở là những chiếc nhà sàn tạm bợ, liêu xiêu nghèo nàn. Để giúp họ định canh định cư, nhà nước đã cho xây những căn nhà bê tông giống nhau như đúc, rất thiếu mỹ quan. Việc xây dựng này dường như đã làm mất đi hình dáng quen thuộc của những ngôi nhà sàn khi nhắc đến người dân tộc thiểu số tại đây, những ngôi nhà chứa khoai, chứa sắn, những chuồng heo nuôi những con heo đồng bào*…Nên chăng, việc giúp người dân định cư cũng cần phải chú ý đến việc bảo tồn những nét văn hoá, kiến trúc truyền thống của người dân tộc.
Sự tiếp xúc với người Kinh đã giúp họ cải tiến rất nhiều các tập quán, phong tục cổ hủ. Về ăn mặc, họ mặc rất giống người Kinh, nhưng lại thích diêm dúa, màu mè, nên vẫn giữ được những sắc thái riêng. Nhìn chung, đâu đó trên huyện Bác Ái vẫn còn những ngôi nhà sàn còn sót lại của người Raglai, nhà sàn cao không quá một mét, lại chật hẹp, do vậy không được sạch sẽ.
Người Raglai theo mẫu hệ, nên con gái cưới con trai. Tuy nhiên việc lựa chọn ban đầu lại do chàng trai quyết định. Có cảm tình với cô nào, chàng trai mang đồ đạc đến cư ngụ nhà cô gái ấy. Người Raglai rất kiêng kỵ chuyện trai gái vụng trộm với nhau, nếu bắt được thì sẽ phạt rất nặng.
Riêng về sinh đẻ thì vẫn còn giữ được những nét khác biệt so với người Kinh. Sản phụ khi sinh nở không được ở trong nhà ở, phải làm một nhà nhỏ tạm, xa nhà vài chục mét hoặc vài trăm mét. Khi sanh, sản phụ có sự trợ giúp của bà đỡ hoặc bà mụ. Trong nhà có bếp lửa để sưởi và nấu nước. Sau khi sanh từ một đến hai hôm, sản phụ sẽ mang con ra suối tắm rửa sạch sẽ, rồi trở về nhà chính. Ngôi nhà làm nơi sinh đẻ sẽ bị đốt cháy, hoặc bỏ mặc cho gió thổi bay.
Từ sau 1975, người Raglai đã áp dụng nông nghiệp lúa nước vào cuộc sống. Lúa nước được trồng trên những rẫy cũ ở thung lũng ven chân núi, gần nguồn nước sông, suối. Cùng với lúa nước kéo theo chăn nuôi trâu, bò để có sức kéo và tăng thêm nguồn thực phẩm.
Ắt hẳn nhiều người trong chúng ta biết bài ca " Giấc mơ Chapi" của nhạc sỹ Trần Tiến qua tiếng ca của ca sỹ Y Moan. Bài hát ấy viết về người Raglai tại huyện Bác Ái này. Đi ngang qua nơi này, khi cất lên bài hát, nhìn thấy khung cảnh yên bình của vùng sơn cước yên ả này, ta mới cảm nhận được hết cái chất tình của người nhạc sĩ : "ở nơi ấy, tôi đã thấy trên ngọn núi cao, có hai người, chỉ có hai người yêu nhau…Họ đã sống, không mùa đông, không mùa nắng mưa, có một mùa, chỉ có một mùa yêu nhau…Ai yêu Tự Do, yêu rừng xanh thì lên núi nghe đàn Chapi…". Chỉ tiếc, trong chuyến đi, để đảm bảo thời gian cho chuyến hành trình, tôi đã không thể tìm hiểu đầy đủ cây đàn Chapi để cảm nhận sâu hơn những lời nhạc sĩ Trần Tiến muốn nói.
Tôi tạm chia tay ngôi làng của người Raglai, chia tay với vùng núi toàn sỏi đá để đi đến ngã ba Ninh Bình, thị trấn Ninh Bình thuộc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Từ đây, chúng ta sẽ bắt đầu đi vào quốc lộ 27, bắt đầu từ ngã 5 Phan Rang, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, kéo dài đến ngã 3 Phi Nôm. Nhưng để làm được việc đó, trước tiên chúng ta phải chinh phục con đèo Sông Pha hay còn gọi là đèo Ngoạn Mục, nơi giáp ranh giữa tỉnh Ninh Thụân và tỉnh Lâm Đồng. Con đèo này được xếp vào một trong những đèo đẹp nhất Việt Nam, cảnh vật thật hùng vĩ. Đứng từ trên đèo, nhìn xuống phía dưới đồng bằng Phan Rang ta mới thấy được mình quá bé nhỏ so với ngút ngàn rừng núi. Khi nhìn xuống, vùng thung lũng Phan Rang được bao bọc bởi rất nhiều ngọn núi nhấp nhô. Khi đến đây, chúng ta sẽ chia tay với không khí của vùng biển, để đến với luồng không khí của đại ngàn, của ngàn thông đang vẫy gọi.
 Chùa Linh Phước hay còn gọi là chùa Ve Chai, vì chùa được xây dựng từ rất nhiều vỏ chai bia đã đập vỡ Từ địa điểm này cho đến Đà Lạt, chúng ta sẽ nhìn thấy thường xuyên những cây thông thẳng tắp, đều đặn mà từ dưới đồng bằng không thể nhìn thấy được. Thông có tác dụng làm trong sạch không khí. Ngửi hơi thông cũng đủ làm khoan khoái, mát mẻ trong lòng. Bên cạnh đó, gỗ thông dùng làm vật liệu để đóng nhà rất tốt, vì gỗ có nhựa thông, con gián ngửi thấy mùi này sẽ không dám bén mảng đến, nhà cửa sẽ rất sạch sẽ. Người ta cũng dùng gỗ thông trong việc đun, đốt.
Ngay trên đèo Ngoạn Mục này, có rất nhiều đoạn đường khúc khuỷu mà ta còn gọi là "cua cùi chỏ", có đến 4 khúc cua như vậy xuyên suốt đường đèo. Ở nơi đây, chúng ta đã có thể thấy lác đác những bông hoa dã quỳ, loài hoa rất đặc trưng cho vùng đất Tây Nguyên.
Từ quốc lộ 27, chúng ta đi qua huyện Đơn Dương, đến ngã 3 Phi Nôm của huyện Đức Trọng để vượt đèo Prenn, đi lên Đà Lạt. Địa danh Prenn lấy theo tên thác Prenn xinh đẹp, nó nằm ngay ở cửa ngõ đi vào thành phố Đà lạt. Thác Prenn nổi tiếng không phải chỉ vì nó khá giống với Thuỷ Liêm Động trong phim Tây Du Ký, mà còn vì những truyền thuyết liên quan đến công cuộc bảo vệ quê hương của đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa Lat, Chil, Sré.
Prenn theo tiếng K'ho có nghĩa là "vùng lấn chiếm". Bà con thiểu số ở Đà Lạt trước đây thường gọi người Chăm là Prenn, vì vương quốc Chăm ở thế kỷ XVII, thuộc triều đại Pôrômê (1625-1651), nhờ vào quân sự hùng mạnh đã đưa quân đánh chiếm các vùng đất lân cận trong đó có Đà Lạt- Lâm Đồng ngày nay. Cuộc chiến kéo dài dai dẳng và thác Prenn chính là ranh giới chiến trường giữa xâm lăng và bảo vệ lãnh thổ.
Bước chân lên vùng đất thơ mộng
Đà Lạt là một vùng đất khá mới đối với người Kinh chúng ta. Thế nhưng nếu so với những người thổ dân ở đây thì nó đã có hơn 2000 năm lịch sử. Đó là những tộc người Lat, Chil, Sré. Đà Lạt được người Pháp phát hiện vào năm 1893. Người có công rất lớn cho khám phá này là bác sỹ thiên tài Alexandre Yersin. Với độ cao 1500m so với mặt nước biển, khí hậu quanh năm mát mẻ đã thu hút nhiều đồng bào từ các nơi kéo đến đây để sinh sống.
Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy Đà Lạt mang trong mình ba dáng dấp: Việt, Hoa, Pháp. Dáng dấp Việt không chỉ bao gồm các đồng bào sắc tộc ở đây mà còn cả bà con từ ba miền Bắc, Trung, Nam về đây hội tụ. Dáng dấp Pháp là những ngôi biệt thự của người Pháp để lại, mang tư duy cầu tiến. Đã có thời gian dài người Pháp và người Việt cùng với nhau sống hoà thuận trên cao nguyên Lang Bian. Còn dáng dấp Hoa chính là lối cư xử khéo léo trong buôn bán, tiếp xúc, hay từ những ngôi chùa mang dáng dấp của Trung Hoa. Do vậy, bên cạnh những tố chất của Việt Nam, ở Đà Lạt còn mang những tố chất khác mà rất khó diễn tả bằng lời được. Nó chỉ có thể được cảm nhận từ mỗi người sau khi đã đặt chân đến xứ sở này mà thôi.
Do có sự hội tụ và giao thoa từ nhiều nền văn hoá khác nhau, đến từ các quốc gia trên thế giới, các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam, người Đà Lạt là người tứ xứ. Họ là những người tha phương cầu thực, nên có tính cần cù lao động, sống giản dị, tiết kiệm và có ý thức vươn lên trong cuộc sống. Trải qua sự bần hàn, con người Đà Lạt rất tha thiết trong chuyện học hành, có truyền thống tôn sư trọng đạo.
Trong những năm trước đây, do khí hậu lạnh giá, sương mù quanh năm nên người Đà Lạt khá trầm mặc, ra đường lúc nào cũng ăn mặc kín đáo. Khi được tiếp xúc với với văn hoá phương Tây (làm ở công sở Pháp) họ học hỏi kinh nghiệm, làm quen với cách sinh hoạt, làm việc, y phục của người Pháp. Bên cạnh đó, Đà Lạt là thành phố du lịch nên khá nhiều cư dân làm nghề dịch vụ. Người Đà Lạt sống với môi trường thoáng mát quanh năm nên tính tình hiền hoà, trầm mặc, đôi lúc bàng quan trước thời cuộc, không dễ bất bình như những người sống ở những vùng nắng nóng.
Cùng với sự biến chuyển của thời cuộc, phong cách sống của người Đà Lạt cũng bị xáo trộn. Một số ít người Đà Lạt chạy theo lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng đến phong cách người bản xứ qua việc "chặt, chém" du khách. Điều này tôi đã từng được "cảm nhận" và nếm trải qua, nên sẽ rất đồng cảm và không thấy lạ lẫm nếu bất kì du khách nào "tâm sự" cùng tôi điều này.
Ở Đà Lạt có cái hay chính là đường phố cứ lên dốc và xuống dốc liên tục, con đường mà theo tôi đẹp nhất chính là cung đường đi vòng quanh Hồ Xuân Hương.
Và điều đặc biệt với những du khách đến từ các thành phố lớn là ở Đà Lạt không có siêu thị hay ngã tư với những đèn xanh đèn đỏ. Lưu lượng giao thông cũng không dày đặc như ở Sài Gòn. Mọi người cũng chẳng gì mà phải hối hả, vội vàng. Cứ bình thản với công vịêc của mình. Ây thế, chính địa hình, thổ nhưỡng ảnh hưởng đến tính cách con người ta.
Vào mùa này, cái thú là gần Tết, bao nhiêu là sắc hoa cùng đua nhau khoe sắc. Từ hoa Dã Quỳ đơn sơ, chất phác, đến hoa Cẩm Tú Cầu, hoa Pense, hoa Mai Anh Đào có màu hồng phai giống như hoa đào ở miền Bắc, rồi có cả hoa Ban trắng mà chỉ xuất hiện ở các vùng núi Tây Bắc…Ôi, làm sao mà kể hết có bao nhiêu hoa có mặt ở Đà Lạt này. Nhưng chỉ có hai loại hoa làm tôi thích thú nhất, đó chính là hoa Mimosa và hoa của cây Phượng Tím. Hoa Mimosa được du nhập vào Đà Lạt từ khoảng thập kỷ 50 của thế kỷ trước, và cây Phượng Tím thì cũng được du nhập vào sau đó ít lâu. Sở dĩ, có tên là Phượng tím vì cây thuộc giống phượng và có hoà màu tím rất đặc sắc.
 Nhà thờ Domain De Marie Ở Đà Lạt, cảnh trí như bày sẵn ra và du khách chỉ việc thưởng lãm cảnh sắc. Không chỉ có những khu du lịch để du khách được đắm mình trong thiên nhiên tuyệt sắc như Đồi Mộng Mơ, đồi thông hai mộ, hồ Xuân Hương… và các dòng thác, mà còn có những đền miếu, chùa chiền, nhà thờ để phục vụ cho việc hành hương chiêm bái. Nhưng đáng kể là chùa Thiên Vương Cổ Sát, Chùa Ve Chai, Thiền Viện Trúc Lâm nơi tu ẩn của hoà thượng Thích Thanh Từ, người thiết lập ra rất nhiều thiền viện lớn ở Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu. Bên cạnh đó, còn có Nhà thờ Chánh Tòa- tức là nhà thờ Con Gà, rồi nhà thờ Domain de Marie. Cả hai nhà thờ này đều có công xây dựng của người Pháp.
Nếu du khách muốn mua sắm hay ăn uống thì có thể đến chợ Đà Lạt, nằm ngay khu Hoà Bình. Cũng ngay tại khu Hoà Bình, du khách còn thấy chợ đồ cũ chuyên bán những mặt hàng len, được thêu thùa rất đẹp mà giá cả rất phải chăng. Còn ăn uống, cá nhân tôi chỉ thích thưởng thức những món ăn ở chợ Đêm mà thôi, ăn trong cảnh bị cảnh sát rượt chạy thì không còn gì lý thú bằng.
Cây cỏ cũng dường như chung vui với đất trời Đà Lạt. Giữa cái khí trời lành lạnh, sương mù giăng mắc, bạn sẽ cảm nhận được cái thi vị của thành phố trong núi sương này. Mùa xuân chính là mùa cao điểm của du khách bốn phương đổ về Đà Lạt để cảm nhận được cái không khí yên ả, thanh bình của Đà Lạt. Đó cũng chính là một cơ hội cho bạn khám phá những nét đặc sắc của thành phố trong sương.
Vậy, chúng ta còn đợi chờ gì nữa mà không khám phá Đà Lạt đi nào!
* “heo đồng bào” hay theo cách gọi của dân gian là “heo mọi”, có đặc điểm nổi bật nhất là da màu đen; con vật này khi trưởng thành có trọng lượng chỉ khoảng 40kg.
Thiên Sầu
© Tạp chí Phía Trước
-
(Mon, 25 Feb 2008 20:12:24 GMT)
Máy bay không người lái (unmanned aerial vehicle, UAV) hiện đang là một trong những công nghệ hàng không hiện đại hàng đầu. Không chỉ là một công cụ đắc lực cho hoạt động an ninh quốc phòng, nó còn phục vụ một cách hữu hiệu cho đời sống xã hội. Vậy, bạn biết gì về công nghệ này? Nó được hình thành ra sao và hoạt động thế nào? Công nghệ này, dù hiện đại, nhưng có phải là xa lạ với châu Á và Việt Nam hay không? Câu trả lời của tác giả Hậu Phú trong bài viết này chắc hẳn sẽ khiến chúng ta thêm suy tư về nền an ninh quốc gia trước sự phát triễn như vũ bão của khoa học quân sự thế giới…
Như tên gọi của nó, máy bay không người lái hoàn toàn không có phi công trong “phòng lái”. Những người phi công có thể điều khiển chiếc máy bay - hay cả một tiểu đội máy bay được trang bị trí khôn nhân tạo - ở hầu như bất cứ nơi nào trên thế giới thông qua vệ tinh. Và “phòng lái” trên máy bay không người lái chỉ là những chiếc hộp đen trên được trang bị hệ thống máy vi tính điều khiển và cảm biến. Tùy theo phi vụ, có một hoặc hai phi công cho mỗi chuyến bay.
 Phi công điều khiển UAV (trái) và phi công điều khiển hệ thống cảm biến (phải) tại một trung tâm ở dưới đất [Ảnh: Wikipedia]
UAV có nhiều chức năng bao gồm quốc phòng và dân sự. Khi được dùng trong quân đội, UAV được trang bị hệ thống cảm biến với chức năng trinh thám, và vũ khí dùng để tấn công từ trên cao. Về mặt dân sự, UAV được dùng trong các hoàn cảnh gây nguy hiểm cho con người như do thám cháy rừng, do thám núi lửa, truy lùng tội phạm, và các nghiên cứu khoa học. Có người đùa rằng UAV rất được ưa chuộng trong trường hợp 3-D—“dull, dirty, dangerous”, nghĩa là “vừa chán, vừa dơ, vừa nguy hiểm”.
Khi nói đến UAV, người ta thường nhắc đến cả một hệ thống, bao gồm ít nhất ba yếu tố chính: trạm điều khiển, máy bay, và công nghệ cảm biến. Thông thường một công ty muốn nắm vững thị trường sẽ cung cấp cả ba yếu tố trên cho khách hàng, theo kiểu one-stop-shop, để bảo đảm các tính năng hoạt động với nhau một cách suôn sẻ.
Lịch sử
Theo các chuyên gia hàng không, UAV đầu tiên có lẽ là chiếc Aerial Target của giáo sư người Anh tên Archibald Montgomery Low sáng chế năm 1916. Theo đúng nghĩa thì Aerial Target là một chiếc máy bay được điều khiển từ xa qua sóng radio giống như những món đồ chơi ngày nay.
Trải qua Thế Chiến I và II, UAV được phát triển theo thời gian để đáp ứng nhu cầu của quân đội. Tiêu biểu nhất cho thời điểm này là những chiếc được chế tạo để huấn luyện các tay súng phòng không. Sau Thế Chiến II, động cơ phản lực được dùng cho những chiếc như Teledyne Ryan Firebee I vào thập niên 1950.
Với sự ra đời của máy tính nhanh hơn và nhỏ hơn trong thập niên 1980 và 1990, lịch sử hàng không đã chứng kiến một sự biến đổi nhanh chưa từng có. UAV được trang bị hệ thống điều khiển để có thể hoàn toàn tự bay theo đường bay định trước nhờ vào hệ thống định vị vệ tinh (GPS). Thêm vào sự phát triển của kỹ nghệ vật liệu hợp chất (composite materials) như sợi carbon và polymer, UAV trở nên nhẹ hơn nhưng lại có thể chuyên chở nhiều bộ phận cảm biến đa chức năng. Nhiều tính thực dụng như tiếp ứng nhiên liệu trên không, tự động đáp, tự động tránh va chạm trên không, bay theo đội hình, v.v. không còn là độc quyền của máy bay có người lái. Những yếu tố quan trọng này giúp cũng cố địa vị của UAV trong ngành hàng không không gian (HKKG).
Quan chức quân đội trong khối NATO (North Atlantic Treaty Organization) và các nước có công nghệ HKKG tiên tiến đã nhìn thấy tiềm năng UAV mang lại. Yếu tố “không người” giúp cho UAV được sản xuất với giá rẻ hơn. Khi được dùng trong cả quốc phòng và dân dụng, sự an toàn của phi hành đoàn không còn là vấn đề quan trọng. Điều đó có nghĩa là chỉ số an toàn trong thiết kế không cần thiết phải cao như trường hợp máy bay có người lái. UAV có khả năng chứa nhiều nhiên liệu để có thể bay liên tục vài ngày liền mà không cần đáp. Lợi điểm này giúp tiết kiệm chi phí hoạt động rất lớn trong việc trinh sát, cung cấp tình báo, hay quan sát thảm họa do thiên nhiên gây ra.
Chức năng
UAV có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Hầu hết các chức năng liên quan đến cảm biến từ xa. Các thiết bị cảm biến bao gồm quang phổ điện từ, sinh học, và hóa học.
Cảm biến bằng quang phổ điện từ bao gồm đơn giản như máy quay phim, chụp hình cho đến tối tân hơn như cảm nhiệt qua tia hồng ngoại, radar, cảm biến sóng cực ngắn (microwave) và cực tím (ultraviolet). Cảm biến sinh học có khả năng phát hiện vi sinh vật trong không khí. Cảm biến hóa học dùng laser spectroscopy để phân tích nồng độ các chất nguyên tố trong không khí.
Ngoài chức năng cảm biến, UAV còn được dùng trong các trường hợp nguy hiểm. Một thí dụ là chiếc Aerosonde cân nặng 16 kg, thuộc công ty Aerosonde Pty Ltd, Úc, có thể bay cận bên cơn bão và truyền dữ liệu trực tiếp về Trung tâm Bão Quốc gia tại tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Aerosonde có thể bay và đo lường áp suất và nhiệt độ gần mặt nước biển - chuyện mà máy bay có người lái khó có thể làm một cách an toàn.
 Aerosonde có thể bay kề cận cơn bão để đưa dữ liệu đo lường trực tiếp về trung tâm khí tượng [Ảnh: aerosonde.com]
Một thí dụ khác là chiếc Ikhana, cân nặng 4.500 kg, của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), do hai trung tâm Dryden và Ames phụ trách, được dùng trong hoạt động chống cháy rừng. Được trang bị với hệ thống cảm biến hồng ngoại dưới cánh máy bay, Ikhana xác định vị trí ngọn lửa và điểm nóng cũng như phân tích sự tăng hay giảm nhiệt độ. Công nghệ cảm nhiệt của Ikhana có thể nhìn xuyên qua khói và bụi dày đặc để kết hợp hình ảnh trực tiếp về vùng bị cháy. Trong cùng một lúc, các hình ảnh này được truyền về trung tâm NASA ở California, Hoa Kỳ, và được kết hợp với Google Earth để tạo nên một tấm bản đồ ba chiều không gian. Theo dữ liệu được cập nhật liên tục, các nhà chức trách điều động lính cứu hỏa và máy bay chữa cháy đến các vùng bị ảnh hưởng để dập tắt lửa một cách hiệu quả.
UAV tại Châu Á
Hơn một thập niên qua, Nhật đã chứng kiến sự phát triển liên tục của máy bay không người lái. Vào mùa hè, máy bay trực thăng không người lái được dùng để phun thuốc trừ sâu trên các đồng lúa. Ngoài áp dụng trong nông nghiệp và công nghiệp, UAV còn được dùng trong việc quay phim, chụp ảnh, và quan sát địa hình. Nghệ thuật phim ảnh cũng nhận được không ít đóng góp từ UAV. Hiện tại có hơn 2.000 máy bay trực thăng không người lái và hơn 8.000 phi công. Đây là những con số đáng kể nếu so sánh với dưới 800 máy bay trực thăng có người lái (không thuộc về nhà nước) và hơn 3.600 phi công chuyên nghiệp tại Nhật.
Bắt đầu từ năm 2000, một số núi lửa ở Nhật đã có những hoạt động bất thường khiến cho nhu cầu do thám tăng cao. UAV có nhiều lợi thế trong việc dò thám nguy hiểm. Cơ quan Phát triển Hokkaido đã dùng máy bay trực thăng không người lái của công ty Yamaha để do thám núi Usu từ khi đó. Từ năm 2001 đến nay, Cơ quan Khí tượng Nhật đang dùng chiếc RPH-2A của tập đoàn Công nghệ nặng Fuji để do thám núi lửa trên đảo Miyake.

Máy bay trực thăng không người lái R-Max của hãng Yamaha, Nhật [Ảnh: Yamaha Motor]
Singapore là một đảo quốc với hơn 4,5 triệu dân số nhưng được xem là một nước có nhiều UAV trên đầu người nhất thế giới. Nằm giữa hai nước láng giềng có đông dân Hồi giáo là Indonesia và Malaysia, quân lực Singapore bảo vệ an ninh quốc gia ngày đêm. Theo phó chủ tịch Cơ quan Khoa học và Công nghệ Quốc phòng, ông Tan Peng Yam, “sự sinh tồn và thịnh vượng [của Singapore] đều nhờ vào an ninh quốc gia.” [1] Vì vậy Singapore tin tưởng rằng kỹ nghệ UAV là cách nhanh nhất và có hiệu quả nhất để làm công việc trinh sát trên biển cũng như trên đất liền. Chính phủ, quân đội, cảnh sát, các đại học và trung tâm nghiên cứu, và các tập đoàn công nghiệp đều sát cánh cộng tác, đưa Singapore trở thành một nước đứng hàng đầu về công nghệ “không người”.
Với số tiền đầu tư 5 tỷ USD mỗi năm, Singapore là nước chi tiêu nhiều nhất cho quốc phòng ở khu vực đông nam Á [2]. Hiện tại nhà cung cấp UAV lớn nhất cho Singapore là Israel.
Ở Đài Loan, ngoài một số UAV mua lại của Úc, Israel và Hoa Kỳ thì còn có một số do Viện Khoa Học và Kỹ Thuật Trung Sơn chế tạo. Con số UAV chính thức ở Đài Loan là bao nhiêu khó mà xác thực, nhưng chuyện Đài Loan đang âm thầm tự chế tạo công nghệ UAV là không chối cãi được. Vào tháng 10 qua, Đài Loan đã tổ chức Ngày Quốc gia mà trong đó có một buổi duyệt binh vũ trang. Đây là lần đầu tiên sau 16 năm Đài Loan lại ăn mừng ngày lễ này kể từ đầu thập niên 1990, khi quan hệ với Trung Quốc đang căng thẳng [3]. Loại máy bay chiến thuật không người lái mang tên Chung Shyang II được xe tải quân dụng chở đi như một lời thách thức với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc. Có tin tức cho hay Chung Shyang II có khả năng tải trọng lượng 800 kg, đủ chỗ cho vài tên lửa không đối địa Hellfire hoặc hỏa tiễn Hsiung Feng IIE do chính Đài Loan chế.

Chung Shyang II xuất hiện trước công chúng tháng 10, 2007 tại Đài Loan [Ảnh: Wikipedia]
Trung Quốc đã bắt đầu chương trình nghiên cứu UAV vào đầu thập niên 1960 khi Liên bang Xô viết cung cấp cho họ chiếc Lavochkin La-17C [4]. Trước khi Liên Xô ngưng hẳn các viện trợ kỹ thuật, Trung Quốc đã sửa đổi La-17C thành chiếc Changkong-1 (CK-1). Đến thập niên 1970, CK-1A được biến chế với chức năng trinh sát nhằm phục vụ việc do thám khí thải từ các cuộc thử nghiệm nguyên tử mà trước đó là công việc của máy bay có người. Qua mấy thập niên, thiết kế của Changkong đã được làm tốt hơn, và bây giờ thế hệ mới nhất là CK-1E đang còn được sử dụng trong việc nghiên cứu cho một thế hệ UAV hoàn toàn mới do chính Trung Quốc chế tạo.

Changkong-1 hiện đang được giữ tại trường Đại học Hàng không và Không gian Nam Kinh, Trung Quốc [Ảnh: sinodefence.com]
Ngoài CK-1 ra Trung Quốc còn có một máy bay không người lái khác tên là WuZhen-5 (WZ-5) [5]. Trong thập niên 1960 khi quân đội Hoa Kỳ dùng chiếc UAV tên AQM-34N Firebee để trinh sát trên bầu trời miền bắc Việt Nam và lục địa Trung Quốc, thì bị quân đội Trung Quốc bắn hạ. Dựa theo mô hình một chiếc AQM-34N Firebee còn nguyên vẹn, WZ-5 ra đời. Học viện Hàng không và Không gian Bắc Kinh bắt đầu nghiên cứu chiếc WZ-5 vào cuối năm 1970. Mãi đến đầu thập niên 1980, chiếc WZ-5 mới chính thức đi vào hoạt động trong không quân Trung Quốc.

WZ-5 dưới cánh chiếc Tu-4 của Trung Quốc [Ảnh: sinodefence.com]
Giới lãnh đạo Trung Quốc đã nhìn thấy nhu cầu tất yếu trong việc tự sản xuất UAV tại bản xứ. Tuy có một đội ngũ sinh viên ngành HKKG được đào tạo từ nước ngoài, kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc sáng chế hệ thống điều khiển cũng như các tính năng cảm biến còn rất hạn chế. Việc lệ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài trong buổi ban đầu là chuyện không thể tránh. Nhiều công ty từ các nước phương Tây sẵn sàng kiếm lợi bằng cách cung cấp linh kiện để Trung Quốc có thể tự xây một hệ thống UAV hoàn chỉnh. Dù sao, Trung Quốc đang có một chiến lược xây dựng lực lượng UAV cho mục đích quân sự về lâu dài. Mục đích đó tốt hay xấu, thời gian sẽ cho biết.
Việt Nam cũng có dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo đang hứng thú đối với công nghệ UAV. Theo các tin tức ít ỏi được tiết lộ, vào năm 2006, Viện Kỹ thuật Phòng không - Không quân đã cho thử nghiệm hai chiếc UAV, mang tên M400-CT, do chính viện thiết kế và chế tạo [6]. Do vấn đề thiếu thiết bị để tự tạo bộ điều khiển cũng như các thiết bị cơ khí khác dành riêng cho ngành hàng không, quá trình lắp ráp chiếc M400-CT gặp rất nhiều khó khăn.
Trước M400-CT thì Việt Nam cũng đã cho thử nghiệm chiếc thủy phi cơ VNS-41 vào tháng 12, 2004 [7]. VNS-41 cũng đã từng trải qua những khó khăn mà M400-CT gặp phải. Tính từ ngày dự án được phê chuẩn bởi Quân ủy Trung ương, 4/3/1978, VNS-41 đã mất hơn 26 năm mới được xem là thành công.
Như các đề án khoa học khác ở Việt Nam, khó khăn chính vẫn là nguồn vốn đầu tư. Theo lời phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống, việc nhận kinh phí từ nhà nước cho công việc nghiên cứu được tóm gọn trong hai chữ: “mệt mỏi” [8].

M400-CT của Viện Kỹ thuật Phòng không – Không quân Việt Nam
Theo nhận định của PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Việt Nam chưa có chiến lược phát triển ngành hàng không không gian rõ rệt. Cũng theo ông, mười năm qua trường Đại học Bách Khoa tpHCM chỉ đào tạo được 260 kỹ sư từ bộ môn kỹ thuật hàng không. Nhưng nguồn nhân lực này phải làm gì đây khi môi trường phát triển khoa học hàng không không gian không tồn tại?
Hiện tại, kỹ sư được đào tạo từ ngành hàng không chỉ phục vụ trong việc khai thác và sửa chữa máy bay đã được mua từ lâu. Nếu muốn đi vào nghiên cứu khoa học thì chỉ có con đường ra nước ngoài, và đây là một bất lợi lớn cho Việt Nam nếu nguồn chất xám này không quay về giúp đất nước phát triển. Muốn giữ chân nhân tài thì nhà nước phải có chiến lược phát triển lâu dài - không phải chỉ để cạnh tranh trên thị trường toàn cầu mà còn xây dựng lực lượng quân sự gìn giữ an ninh quốc gia.
Trích từ bài phỏng vấn PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Lao Động Cuối Tuần, Số 16, 28/4/2007
Chẳng lẽ chúng ta chưa có sự chuẩn bị x
| |