Luyenkim.Net!

...where your idea grows!

 
  • Decrease font size
  • Default font size
  • Increase font size
Trang chủ arrow Diễn đàn arrow Mạng Luyenkim.NET arrow Tin từ các diễn đàn về Vật liệu
Luyện kim
Minh Biện's blog - Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết (1 đang xem) (1) Khách
Bài viết dưới cùng Gửi trả lời Được ưa thích: 0
CHỦ ĐỀ - Minh Biện's blog - Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết
#2099
blogger
(Người điều hành)
Moderator
Bài viết: 51
graphgraph
Thành viên gián tuyến Click vào đây để xem thông tin về thành viên này
Minh Biện's blog - Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết 7 Tháng, 2 Tuần trước đây Đánh giá: 1  

Bài viết mới nhất

Minh Biện

Tìm, Đọc, Nghĩ, Viết

Subscribe: Bloglines, Google Reader, My MSN, Netvibes, Newsburst
Newsgator, Odeo, Podnova, Rojo, My Yahoo!, Desktop Reader

Favicon Thử trí thức Minh Biện 7 Jan 2009, 12:36 pm

Tôi có cảm tưởng là trong thâm tâm của các tác giả Minh Biện và các thành viên bình luận ai cũng tự hào về trí tuệ của mình nói chung và về tư duy logic và khả năng biện minh của mình nói riêng. Cứ đọc các bài và các lời bình thì có thể thấy điều đó.


Tự hào là tốt. Trí tuệ là tốt. Tư duy logic là tốt. Khả năng biện luận cao là tốt.


Vì vậy, tôi có thử thách này cho các tác giả Minh Biện, các thành viên bình luận, và cho tất cả bạn đọc, ngoại trừ điều rất đáng tiếc là thử thách này chỉ áp dụng cho những người biết tiếng Anh.


Đây là kết quả của phiên tòa quốc tế xử tranh chấp chủ quyền giữa Na Uy và Đan Mạch về vùng Đông Greenland:



  1. Kết quả

  2. Bất đồng ý kiến của quan tòa Anzilotti

  3. Bất đồng ý kiến của quan tòa Vogt

  4. Nhận xét của quan tòa Schucking và Wang

  5. Phụ lục


Hoàn cảnh của tranh chấp này có một số điều giống và một số điều khác với trường hợp công hàm Phạm Văn Đồng.


Lý luận Na Uy và Đan Mạch đưa ra, lý luận của Tòa, lý luận của những quan tòa không đồng ý với quyết định của Tòa có một số điều giống và một số điều khác với trường hợp công hàm Phạm Văn Đồng.


Các bác thử phân tích và tranh luận xem phiên Tòa này nói gì về trường hợp công hàm Phạm Văn Đồng. Tôi nghĩ để làm phân tích này chủ yếu là cần có khả năng tiếng Anh và khả năng lý luận trên trung bình, không cần nhiều kiến thức chuyên môn.


Các bác thử trổ tài trên đấu trường này thay vì đấu trường “Thảo luận chung của bạn đọc” để đổi không khí.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Bãi Tục Lãm 2 Jan 2009, 6:51 pm

Trong bài viết trên VNN, TS Nguyễn Hồng Thao, thành viên đoàn đàm phán biên giới trên bộ, viết,



Tại khu vực thác Bản Giốc, theo quy định của Hiệp ước 1999, luật pháp và thông lệ quốc tế, đường biên giới đi theo trung tuyến dòng chảy phía Nam cồn Pò Thoong, hai bên đã điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, qua dấu tích trạm thủy văn xây dựng những năm 1960, quy thuộc 1/4 cồn, ½ thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam.


Tại cửa sông Bắc Luân, biên giới quy thuộc ¾ bãi Tục Lãm và 1/3 bãi Dậu Gót cho Việt Nam, ¼ Tục Lãm và 2/3 bãi Dậu Gót cho Trung Quốc, và thiết lập khu giao thông thuỷ tự do cho nhân dân địa phương sử dụng luồng hai bên bãi Tục Lãm và Dậu Gót.


Trả lời phỏng vấn trên BBC, TS Nguyễn Hồng Thao cho biết,



…ở bãi Tục Lãm với diện tích 52 hectares thì Việt Nam có 3/4 và Trung Quốc là 1/4.


Bãi Tục Lãm ở đâu, và tại sao Trung Quốc được 1/4 và Việt Nam được 3/4?


Bản đồ hành chính của Thị xã Móng Cái có vẽ Bãi Tục Lãm:



Dựa trên



  1. bản đồ trên,

  2. một bài trên Đài Tiếng nói Việt Nam,

  3. việc bãi Tục Lãm có diện tích 52 héc ta,


tôi đoán là bãi Tục Lãm là một cái cồn được khoanh xanh trong bản đồ dưới đây:




Vùng khoanh đỏ và vùng khoanh xanh, nằm giữa sông Ka Long và sông Lục Lầm, là một vùng tên Lục Lầm trong bản đồ Pháp do nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn sưu tầm:



Trong bản đồ trên, ở cực Đông của vùng Lục Lầm có một cái cồn hình tam giác thuộc về Trung Quốc. Có phải cái cồn đó là vùng khoanh xanh, là bãi Tục Lãm, và Trung Quốc đã dùng bản đồ Pháp này để đòi hỏi bãi Tục Lãm?


Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ chiếu bản đồ Pháp lên bản đồ Google:



Bản đồ trên là bản đồ Google. Tôi đánh dấu vùng Tục Lãm bằng chữ “x”. Trong những bản đồ sau, tôi sẽ chiếu bản đồ Pháp càng ngày càng đậm lên bản đồ Google. Tôi lấy khúc quanh của sông Ka Long (A), sông Lục Lầm (D, E, C), vùng Lục Lầm, và Trà Cổ (B) làm các điểm quy chiếu cho việc này.









Kết quả cho thấy một số điểm chính



  1. Cái cồn hình tam giác thuộc về Trung Quốc trong bản đồ Pháp là vùng được ghi chú bởi ký hiệu “y”, chứ không phải là bãi Tục Lãm (vùng được ghi chú bởi ký hiệu “x”).

  2. Theo bản đồ Pháp, bãi Tục Lãm (vùng được ghi chú bởi ký hiệu “x”) hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

  3. Theo bản đồ Pháp thì sông Ka Long nằm ở phía bắc của bãi Tục Lãm. Theo bản đồ Google thì luồng chính của sông Ka Long (ghi chú bởi ký hiệu “1″) cũng nằm ở phía bắc của bãi Tục Lãm.


Như vậy, từ khi bản đồ Pháp được vẽ cho tới nay, bãi Tục Lãm luôn luôn thuộc về Việt Nam.


Nếu có áp dụng đoạn dưới đây của Hiệp định Pháp-Thanh, do nhà nghiên cứu sưu Trương Nhân Tuấn sưu tầm và dịch, thì bãi Tục Lãm cũng luôn luôn thuộc về Việt Nam.



Conformément aux conventions admises par les deux Commissions dans la séance d’ouverture des travaux, le 1er Novembre 1889 - 9e jour de la 10e mois de la 15e année de Kouong-Siu, on prendra toujours pour frontière le chenal navigable, c’est à dire le plus profond de la rivière formant la limite des deux Etats.

Si, par suite de crues ou de baisses des eaux, le chenal navigable se déplace et si des bancs ou ilots nouveaux viennent se former, la frontière se trouvera reportée naturellement dans le nouveau chenal navigable et les bancs ou ilots de nouvelle formation appartiendront à la puissance du côté de la quelle ils se trouveront.


Chiếu theo các công ước đã được hai ủy ban công nhận trong phiên họp khai mạc công trình phân giới, ngày 1 tháng 12 năm 1889 nhằm ngày 8 tháng 10 năm Quang Tự thứ 15, người ta luôn chọn đường biên giới là đường nước tàu bè lưu thông, có nghĩa là phần sâu nhất của dòng sông, là đường giới hạn giữa hai nước.

Nếu sau này, vì ngập lụt hay vì cạn nước, đường tàu bè thông lưu thay chỗ, và nếu những dãi đất hay các cù lao được thành hình, đường biên giới sẽ đương nhiên dời qua đường tàu bè thông lưu mới và những dãi đất hay cù lao mới thành hình sẽ thuộc về nước mà phía bờ của nó ở đó.


Vì vậy, không biết Trung Quốc đã dùng cơ sở nào để đòi bãi Tục Lãm, và không biết tại sao Việt Nam phải chấp nhận để cho Trung Quốc 1/4 bãi Tục Lãm?


Vì quá trình đàm phán và lập luận của hai bên không được công bố, chúng ta chỉ có thể đoán.


Bài của TS Thao trên VNN có hai đoạn đáng lưu ý:



Hai bên đã cùng thoả thuận và áp dụng sáng tạo nguyên tắc “cả gói” để giải quyết các khu vực tồn đọng với mục đích tìm giải pháp tổng thể, công bằng, hợp lý, hợp tình, hai bên có thể chấp nhận được. Nội dung chính của nguyên tắc này là giải quyết trên cơ sở cân bằng lợi ích và diện tích, biên giới đi qua tất cả các mốc cũ, dấu tích lịch sử, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống của cư dân biên giới. Hai bên đã lần lượt chia các khu vực tồn đọng ra thành nhiều gói, mỗi gói giải quyết theo một số nguyên tắc nhất định như gói 11+1 mốc cũ, gói các khu vực trong C, ngoài C, gói “ các cửa khẩu” Trà Lĩnh, Pò Peo, Tân Thanh, Hữu Nghị (đường bộ và đường sắt), Chi Ma, “gói sông suối”, gói các khu vực đặc thù” và “gói thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân”.




Tại khu vực thác Bản Giốc, theo quy định của Hiệp ước 1999, luật pháp và thông lệ quốc tế, đường biên giới đi theo trung tuyến dòng chảy phía Nam cồn Pò Thoong, hai bên đã điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, qua dấu tích trạm thủy văn xây dựng những năm 1960, quy thuộc 1/4 cồn, ½ thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam.


Có phải nguyên nhân của việc Việt Nam chấp nhận 1/4 bãi Tục Lãm thuộc về Trung Quốc là



  1. Bãi Tục Lãm và thác Bản Giốc nằm trong cùng một gói.

  2. Trung Quốc “nhượng bộ” (tôi nhấn mạnh là từ “nhượng bộ” được đặt trong ngoặc kép) ở thác Bản Giốc cho nên Việt Nam phải nhượng bộ ở bãi Tục Lãm.


Có phải vì nếu bị mất hoàn toàn cồn Pò Thoong, tức là thác Bản Giốc 3 tầng sẽ hoàn toàn thuộc về Trung Quốc, thì sẽ là điều mà dân tộc Việt Nam không thể chấp nhận được cho nên Việt Nam đã nhượng bộ ở bãi Tục Lãm để giữ được phân nửa thác Bản Giốc 3 tầng?


Việc chiếu bản đồ Pháp lên bản đồ Google cho thấy một số điểm phụ:


So với bản đồ Pháp, sông Ka Long ngày nay đã bị đẩy sang phía Việt Nam: Vùng Lục Lầm của Việt Nam bị thu hẹp lại từ hướng Bắc, trong khi lãnh thổ của Trung Quốc phía bên kia sông Ka Long được nới rộng xuống phía Nam. Có lẽ việc này một phần là do thiên nhiên, một phần là do con người nước bạn, thí dụ như ngày nay có những công trình nhân tạo như kè xương cá mà nước bạn xây trên sông Ka Long:



Trong bản đồ Pháp, không có nhánh sông được ghi chú bởi ký hiệu “3″, tức là bãi Tục Lãm nối liền vào vùng Lục Lâm. Theo bản đồ Pháp, vùng Lục Lâm, bao gồm bãi Tục Lãm, nằm phía Nam sông Ka Long, hoàn toàn thuộc về Việt Nam.


Ngày nay, có nhánh sông được ghi chú bởi ký hiệu “3″ cắt qua vùng Lục Lâm, tức là bãi Tục Lãm bị cắt ra khỏi vùng Lục Lâm. Không biết các công trình nhân tạo ở nước bạn đã đóng góp bao nhiêu cho việc tạo ra nhánh sông này. Dù sao đi nữa, dòng chính của sông Ka Long vẫn nằm phía Bắc bãi Tục Lãm, và nếu xét theo vùng này thì bãi Tục Lãm phải thuộc về Việt Nam.


Mất đi 1/4 bãi Tục Lãm không chỉ là mất đi 13 héc ta, mà còn làm cho dòng chính của sông Ka Long ở đoạn này hoàn toàn thuộc về Trung Quốc và còn cho phép dân cư Trung Quốc ở địa phương đi lại trên nhánh sông “3″, trong khi nhánh sông này đáng lẽ phải nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Bóc lột 27 Dec 2008, 11:36 pm


 


 


Cách đây hơn mười năm, một thầy giáo của tôi nói rằng chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến một mức rất tinh vi. Nếu trước kia các chủ đồn điền phải dùng gậy ba-tong để bóc lột công nhân bản xứ, bây giờ việc bóc lột diễn ra ở tầm mức quốc gia. Ông lấy ví dụ thời những năm 70-80 Nhật đã mua rất nhiều tài sản ở Mỹ, kể cả trái phiếu chính phủ vì Nhật có thặng dư mậu dịch lớn với Mỹ giống như Trung Quốc bây giờ. Thế rồi năm 1985 Mỹ đã buộc Nhật phải ký vào Plaza Accord để đồng Yen lên giá hơn 50% so với đồng USD trong hai năm sau đó. Điều này tương đương với tất cả các khoản đầu tư trước đây của Nhật vào Mỹ bị mất giá hơn một nửa, cũng có nghĩa là Mỹ đã “bóc lột” Nhật một cách trắng trợn bằng cách “quịt” 50% số nợ với Nhật.


 


 


Hơn 20 năm sau, Trung Quốc đã thế chân Nhật trở thành “chủ nợ” lớn nhất của Mỹ. Có điều những nỗ lực của Mỹ trong suốt giai đoạn 2000-2006 không làm Trung Quốc nhượng bộ và đồng yuan chỉ được thả lỏng một phần và cho lên giá từ từ so với USD trong 2 năm gần đây. Điều đáng nói là dù đồng yuan đã bắt đầu lên giá, thặng dư mậu dịch của Trung Quốc với Mỹ vẫn tiếp tục gia tăng và những số liệu gần đây cho thấy gần như toàn bộ thâm hụt ngân sách của Mỹ đều được tài trợ từ nguồn này. Hiện tại dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã gần đạt 2 ngàn tỷ USD. Thử tưởng tượng nếu Mỹ thành công trong việc làm USD mất giá khoảng 50% so với đồng yuan như đã làm với Nhật năm 1985, số tiền Trung Quốc bị “quịt” sẽ tương đương với 10 năm GDP hiện tại của Việt nam.


 


 


Vậy tại sao Trung Quốc không chuyển dự trữ ngoại tệ của mình sang các đồng tiền khác hay vàng? Hay đơn giản hơn là ngừng không tăng dự trữ ngoại tệ nữa vì đã quá đủ để đảm bảo an toàn cho cán cân thanh toán? Vấn đề là bản thân Trung Quốc muốn giữ tỷ giá của đồng yuan với đồng USD cố định vì Mỹ là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất. Theo cách nói của một số nhà kinh tế thì Trung Quốc đã “hối lộ” cho dân Mỹ thông qua chính sách tỷ giá để họ tiếp tục mua hàng của Trung Quốc. Cái lợi mà Trung Quốc được trong ván bài kinh tế này không phải là 2 ngàn tỷ USD dự trữ ngoại tệ mà Trung Quốc biết sẽ mất một phần trong tương lai. Mục tiêu của Trung Quốc chính là tăng trưởng kinh tế thông qua con đường xuất khẩu, đây là điều cần thiết để Trung Quốc giữ xã hội ổn định và là phương tiện để đạt được các mục tiêu chính trị khác. Có nghĩa là Trung Quốc chấp nhận sẽ bị quịt nợ trong tương lai, hay nói cách khác sẵn sàng để Mỹ “bóc lột”.


 


 


Không chỉ bị “bóc lột” vì khoản cho vay của mình sẽ mất giá khi đồng yuan lên giá, người dân Trung Quốc hiện tại đang bị bóc lột trên một khía cạnh khác. Họ buộc phải giảm tiêu dùng và tăng tiết kiệm cá nhân vì chính sách quản lý vĩ mô méo mó của chính phủ Trung Quốc. Mỗi đô la thêm vào dự trữ ngoại tệ quốc gia đều có đóng góp của những công nhân Trung Quốc làm việc trong các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Đây có thể coi là một loại thuế trá hình đánh lên thu nhập của những người công nhân này và lên cả lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu. Bên cạnh đó, mọi người dân Trung Quốc đều phải giảm tiêu dùng các loại hàng hóa nhập khẩu vì chính sách tỷ giá thấp của chính phủ. Họ đang bị “bóc lột” gián tiếp thông qua dự trữ ngoại tệ mà có lẽ nhiều người không biết và không đồng ý.


 


 


Năm 1985, Reagan và Volcker đã ép buộc thành công Nhật chấp nhận đồng Yen lên giá để giải quyết vấn đề thâm hụt mậu dịch của Mỹ và nguy cơ khủng hoảng tài chính. Bush và Greenspan đã không làm được như vậy với Trung Quốc, để rồi cuộc khủng hoảng hiện tại nổ ra. Tất nhiên người Mỹ phải chịu hậu quả đầu tiên, nhưng không ai tiên liệu được cuộc khủng hoảng này sẽ dừng lại ở đâu. Nếu khoảng tháng 9-10/2008 “mắt bão” cuộc khủng hoảng nằm ở Mỹ thì hiện tại có vẻ nó đã chuyển sang các nước Đông Âu, và nhiều người dự báo nó sẽ đi dần sang phía Đông. Có thể Trung Quốc sẽ trắng tay trong ván bài kinh tế-chính trị vẫn “chơi” lâu nay. Ngược lại nếu Trung Quốc khéo léo và may mắn, họ sẽ xoay chuyển được global geopolitical landscape theo một hướng mới có lợi hơn cho mình. Đó có lẽ là bản chất dân tộc Trung Quốc, sẵn sằng nhin ăn nhịn mặc, bị bóc lột và khinh rẻ trong thời gian dài để vùng lên đúng lúc. Có điều chiến lược này rất rủi ro và người lãnh đạo phải sẵn sàng hi sinh lợi ích của cả dân tộc trong một (vài) thế hệ để có được cơ hội “thắng làm vua”.


 


 


Đáng tiếc là, dù bất cứ trường hợp nào xảy ra với Trung Quốc, kinh tế Việt nam cũng sẽ gặp nhiều sóng gió trong năm 2009.


 


 


Giang Lê



 



 



 

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Thư Ngỏ về biểu tình phản đối Trung quốc ở Berlin- 10 /01/2009 20 Dec 2008, 9:36 pm



Minh Biện xin trân trọng giới thiệu thư ngỏ của anh Nguyễn Văn Nguyên (*), một du học sinh Việt Nam đang học tập ở Đức vừa gửi tới chúng tôi. Lá thư có nội dung kêu gọi người Việt sống ở Berlin và các thành phố lân cận tham gia cuộc biểu tình phản đối tham vọng của Trung Quốc ở biển Đông. Cuộc biểu tình được dự định tổ chức  vào lúc 14:30, ngày 10.01.2009, tại Brückenstrasse – 10179 Berlin.


=====================================================


Thưa các bạn,


Những cuộc biểu tình cuối năm 2007 và đầu năm 2008 của người dân Việt Nam trong và ngoài nước bày tỏ lòng công phẫn, phản đối mạnh mẽ Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam vào lãnh thổ họ đã góp phần làm cho vùng biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam suốt một năm qua đã trở lại bình yên; ngư dân Việt Nam không còn bị uy hiếp, tấn công, giết hại bằng vũ lực từ tàu chiến Trung Quốc. Ngay sau đó, Trung Quốc cũng đã rút lại xác nhận lập huyện đảo Tam Sa nhằm thôn tính chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. Qua đó, chúng ta, người dân Việt Nam, khẳng định thêm một lần nữa sự lợi hại của sức mạnh khối đại đoàn kết, sức mạnh tinh thần thần yêu nước, cương quyết bảo vệ từng tấc đất thuộc chủ quyền Tổ Quốc trước sự đe dọa của ngoại bang.  Đồng thời, chúng ta cũng đánh giá cao những động thái thiện chí trên đây của chính quyền Trung Quốc.


Những tưởng rằng: chính phủ Trung Quốc sẽ tiếp tục vun vén, cải thiện mối hòa hiếu giữa hai quốc gia, hai dân tộc Việt Nam- Trung Hoa ngày càng tốt đẹp. Thế nhưng họ chỉ thay đổi phương pháp với mức độ khôn khéo, ít gây ồn ào hơn, còn dã tâm xâm phạm chủ quyền Việt Nam thì không hề thay đổi mà tỏ ra ngày càng nguy hiểm:


1.   Chính phủ Trung Quốc đã gây áp lực buộc tập đoàn dầu khí Anh quốc BP và Hoa Kỳ ExxomMobil phải từ bỏ các dự án hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam tại vùng Tư Chính-Vũng Mây và bồn trũng Côn Sơn thuộc thềm lục địa phía Nam Việt Nam. Trung quốc còn cho tàu chiến đe dọa tấn công buộc một tàu khoan thăm dò Nauy cho Việt Nam phải rút lui. Đây là những hành động gây hấn trắng trợn bất chấp công ước biển Quốc Tế, bất chấp chủ quyền thềm lục địa thiết thân của Việt Nam.


2.   Nghiêm trọng hơn, gần đây Trung quốc đã tuyên bố dự định  khai thác dầu khí ở vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam với mức  đầu tư 30 tỉ USD. Đây là một điều không thể chấp nhận được vì nó xâm phạm tới chủ quyền thiêng tiêng của Tổ Quốc, làm tổn hại danh dự, tiền đồ phát triển đất nước. Đồng thời, nó cũng sẽ ảnh hưởng xấu mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam -Trung Hoa. Có thể thấy rằng, tuyên bố này của chính phủ Trung Quốc là một “ viên đá dò đường“ nhằm tìm hiểu động thái của chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng như sự chú ý của công luận quốc tế.


Để nhằm thực hiện được những âm mưu trên đây, chính phủ Trung quốc đã và đang ra sức vận động ngoại giao với đại sứ một số nước nhằm kêu gọi sự hợp tác, đồng thời gây sức ép đe dọa các tập đoàn dầu khí là đối tác của Việt Nam.


Do vậy, cách hiệu quả nhất lúc này là: người Việt chúng ta cần lên tiếng mạnh mẽ nhằm gửi một thông điệp cho chính phủ Trung Quốc biết rằng: nhân dân Việt Nam đang công phẫn, quyết tâm bằng mọi giá bảo vệ từng tấc đất lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc mình trước sự dòm ngó của ngoại bang. Sự phản đối này đồng thời sẽ phơi bày cho quốc tế thấy được dã tâm bành trướng, gây bất ổn trong khu vực của Trung Quốc. Dù rằng, họ đang cố tạo ra một bộ mặt thân thiện khi hội nhập vào thế giới văn minh.


Kính mong nhận được sự quan tâm hưởng ứng của các bạn nhằm bảo vệ quyền lợi thiêng liêng, lớn lao của Tổ Quốc mình.


Dự kiến cuộc biểu tình sẽ diễn ra vào lúc 14:30, ngày 10.01.2009, tại Brückenstrasse – 10179 Berlin

Liên hệ : Nguyễn Văn Nguyên

E-mail: Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

Điện thoại: +4917621534269


=============================


(*) Anh Nguyễn Văn Nguyên và một số sinh viên Việt Nam ở Đức đã từng tổ chức lấy chữ kí phản đối vụ thảm sát ngư dân trên Vịnh Bắc Bộ hồi 2005. Trước những động thái mới của chính quyền Trung Quốc trên biển Đông, anh đã gửi lá thư ngỏ này tới Minh Biện yêu cầu chúng tôi đăng tải. Minh Biện đăng lá thư để ủng hộ thái độ phản đối ôn hoà và chừng mực của anh và các anh chị em sinh viên.


Minh Biện cũng như SEASRF không tổ chức cuộc biểu tình này. Bạn đọc quan tâm xin liên hệ với anh Nguyễn Văn Nguyên theo địa chỉ ở trong thư.

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Những hoa tiêu yếu kém 17 Dec 2008, 2:44 am

hanoilut1

Người ta thường ví Việt Nam vào WTO như là ra biển lớn, và quả thật là sẽ nhiều sóng gió hơn với tất cả mọi mặt xã hội Việt Nam từ kinh tế, chính trị, ngoại giao đến giáo dục, văn hóa xã hội. Thực tế là Việt Nam đã chấp nhận mở cửa và xét trên khía cạnh nào đó thì đây là xu thế không thể đi ngược. Nhưng con tàu Việt Nam đang dần tỏ ra thiếu đội ngũ hoa tiêu chuyên nghiệp

————————————————–

1. Sự khác biệt về nhận thức


Người Việt vẫn rất hay tự ái khi bị coi là kém văn minh, là dã man, phá hoại môi trường. Nhưng thực tế là vẫn còn khoảng cách lớn về những giá trị văn minh mà người Việt còn cần phải cố gắng trong nhiều năm. Một nơi được coi là nắm vững các giá trị quốc tế nhất là Bộ Ngoại giao thì cán bộ có thể ngang nhiên buôn lậu sừng tê giác, điều tối kị với hình ảnh một con người văn minh chứ chưa nói đến với vai trò là cán bộ ngoại giao đại diện quốc gia. Thực tế rằng đó là bộ mặt của tội phạm quốc tế[i].


Một cán bộ nhà nước khác tại Văn phòng chính phủ, cơ quan thực hiện pháp luật cũng hồn nhiên giải thích về việc mình có nhiều tiền trong túi là do người nhà gửi nhờ mua sừng tê giác[ii]. Điều đó minh chứng một điều rằng về mặt nhận thức, ngay cả cán bộ ngoại giao, nhân viên chính phủ cũng thể hiện sự yếu kém một cách trầm trọng về các giá trị tốt đẹp chung của nhân loại.


Và chính những người này lại đang đóng vai trò hoa tiêu cho xã hội Việt Nam.


2. Đạo đức và niềm tin


Năm 2007 bùng nổ về kinh tế cũng là năm các cán bộ nhà nước đổ xô rời nhiệm sở để sang lĩnh vực tư nhân. Điều đáng bàn là những người này lại đa phần là các cán bộ có năng lực[iii]. Không hẳn là vì họ không thể sống được khi ở nhà nước và cũng không hẳn vì họ đã chán ghét chuyên môn mà ngược lại họ hoàn toàn có thể như những “người bình thường” đang làm quan chức khác để có cuộc sống sung túc và họ cũng rất giỏi chuyên môn. Ông Nguyễn Ngọc Đào, đại biểu quốc hội – giảng viên học viện hành chính quốc gia trong phát biểu của mình đã nói rất thật khi đề cập đến vấn đề phẩm giá.


Thực tế cho thấy rằng bộ máy nhà nước đang được coi là rất thiếu đạo đức với nhiều tham nhũng, chạy chức quyền, tự tạo ra những mê cung pháp lý nhằm làm khó dễ người dân, doanh nghiệp từ đó làm lợi cho bản thân.


Và điều đó lại càng làm những người tôn trọng giá trị nhân văn xa lánh khu vực làm hoa tiêu, hoạch định những chiến lược xã hội.


3. Kết cục tất yếu – Hoa tiêu chệch choạc.


Khi nhìn lại công cuộc đổi mới, rất nhiều người thầm cám ơn những lãnh đạo sáng láng bấy giờ. Tất nhiên họ cũng đã được sự góp sức của bộ máy cố vấn nghiên cứu uyên thâm và sâu sắc. Đồng thời công cuộc đổi mới đã tạo ra rất nhiều cơ hội khác cho những người tài. Tinh hoa của dân tộc đã được trải rộng hơn trên nhiều lĩnh vực và gặt hái được nhiều thành tựu.


Giờ đây các sinh viên giỏi không còn cần trông chờ vào các xuất học bổng ngoại giao mà còn có phần e ngại các học bổng vừa nhỏ vừa luôn bị chuyển chậm trễ để nhận trực tiếp học bổng nước ngoài hoặc tự đầu tư cho tương lai.


Công việc nhà nước cũng chẳng phải cái gì khiến người ta phải ngưỡng mộ, nó đã mang nghĩa khác hẳn với nghĩa “cán bộ” khi mới được sử dụng. Giờ đây công việc nhà nước đồng nghĩa với lương thấp, bệ rạc và đấu đá nội bộ.


Từ đó liên tiếp trong năm 2008, Việt Nam gặp hàng loạt vấn đề về dự báo. Thủ tướng Dũng đã bị coi là có đội ngũ quá kém và phải thừa nhận tình trạng điều hành không hiệu quả và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề dự báo[iv].


Hà Nội cũng trải qua đợt lụt lịch sử làm tê liệt giao thông đồng thời gây thiệt hại nhiều về người và hoa màu. Các chỉ trích đã tập trung mạnh mẽ vào vấn đề dự báo thời tiết khi có đến 5 dự báo sai nghiêm trọng trong vòng hơn một tháng[v]. Ông Bộ trưởng cũng phải thốt lên “Không thiếu tiền, chỉ thiếu tài”[vi]. Vấn đề ở chỗ với việc làm khó khăn, phức tạp đòi hỏi nhiều kiến thức nhưng đồng lương thấp kém thì không thể nào thu hút được người đủ năng lực. Với sự yếu kém này đã gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế.


Giờ đây, dường như tinh hoa của dân tộc đã không còn nằm trong nhà nước nữa. Vì vậy, các cuộc cách mạng nhận thức khó có khả năng xảy ra bởi động lực nội tại của tầng lớp lãnh đạo. Nhiều người đã bóng gió nói đến các lãnh đạo nhưng “quan trí” quá kém[vii]. Với tình trạng lãnh đạo thiếu hụt tinh hoa, hậu quả cho xã hội là rất nghiêm trọng và hình thành chính quyền dễ bị lũng đoạn dưới nhiều hình thức.


4. Đá ngầm


Dù thế nào chăng nữa, lãnh đạo đất nước theo cơ chế hiện nay cũng là từ bộ máy công thuộc quản lý của nhà nước. Chính vì vậy vai trò hoa tiêu không thể nào khác nằm trong các thể chế này. Việc yếu kém của ngành khí tượng thủy văn có thể gây hại hàng ngàn tỷ đồng, việc yếu kém của định hướng kinh tế có thể lãng phí hàng trăm ngàn tỷ đồng cho đất nước. Hiện nay, con tàu Việt Nam dường như đang có đội ngũ thợ máy, phục vụ tốt hơn nhưng lại được chỉ dẫn bởi hoa tiêu tồi đi. Con tàu có hoạt động trơn tru và tốt lên đến đâu mà hoa tiêu kém thì vẫn có thể đâm vào đá ngầm.


——————————————————————————–


[i] http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/2008/11/3BA089BC/

[ii] http://dantri.com.vn/Sukien/Van-phong-Chinh-phu-lam-ngo-truoc-nhung-to-cao-PM…

[iii] http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/01/3B9FEB8E/

[iv] http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/5432/

[v] http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=143707&ChannelID=46

[vi] http://www.vnn.vn/xahoi/2008/11/814556/

[vii] http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2005/08/3B9E0D2F/

Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit Segnalo Simpy Spurl Wists Technorati

Favicon Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc 6 Dec 2008, 9:38 pm

Giới thiệu: Bài này tôi viết ban đầu chỉ định đăng trên Minh Biện, sau thấy Minh Biện hầu như đã bội thực bài viết về BĐ nên nảy ra ý đăng ở chỗ khác. Bác Dương Danh Huy đã giúp gửi tới VietnamNet và tờ này đã đăng trọn vẹn bài (có thêm vào một số hình ảnh, đường link và đoạn giới thiệu ngắn). Theo đề nghị của bác Nguyễn An Nguyên và một số bác khác, tôi post lại trọn vẹn bài đăng trên VietnamNet để rộng đường dư luận


==========================




Biển Đông và chiến lược diều hâu của Trung Quốc








06/12/2008 11:52 (GMT + 7)












Diều hâu chỉ có thể nhượng bộ diều hâu chứ không thể nhượng bộ bồ câu. Với các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông, trừ phi họ cùng đứng lại với nhau, nếu không sẽ không phải là đối thủ đáng để Trung Quốc nhượng bộ.


Việt Nam tái khẳng định chủ quyền tại Trường Sa, Hoàng Sa Người dân ủng hộ việc xác định chủ quyền Việt Nam Không thể chấp nhận thăm dò dầu khí trên vùng biển VNTuần Việt Nam xin giới thiệu bài viết của tác giả, bạn đọc Dự Trần - cố vấn của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông như một tư liệu để bạn đọc tham chiếu.













Một đảo lớn của Hoàng Sa nơi Trung Quốc đã xây sân bay (Ảnh:TTO)



Từng bước thiết lập chủ quyền trên thực tế dù không có cơ sở pháp lý









“Diều hâu: [từ dùng chỉ] đối tượng ủng hộ giải pháp chiến tranh và các chính sách hướng tới chiến tranh” – Từ điển trực tuyến Merriam-Webster


Tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông từ lâu đã là một lá bài ngửa. Từ năm 1947, họ đã xuất bản bản đồ địa giới và hải giới Trung Quốc trên Biển Đông với 11 “đường viền gạch nối). Từ 1953 trở lại đây thì 2 đường viền gạch nối trên Vịnh Bắc Bộ đã bị xóa đi, để lại bản đồ chính thức của Trung Quốc với 9 đường gạch nối (hình chữ U hay hình lưỡi bò)[1].













Vài nét về tác giả bài viết


Tác giả bài viết là Tiến sĩ kinh tế học Dự Trần, chuyên nghiên cứu về tương tác chiến lược trong kinh doanh và chính trị.


Ông tốt nghiệp từ Đại học tổng hợp Texas-Austin và hiện đang làm chuyên gia tư vấn kinh tế tại ERS Group Inc - một tập đoàn chuyên tư vấn cho Chính phủ Mỹ và các đại công ty trong nhóm Fortune 500 trong các vấn đề liên quan tới cạnh tranh, lao động, tài chính, đầu tư và năng lượng.


Ông cũng là cố vấn cho Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Quỹ này được thành lập năm 2007.


Mục đích của Quỹ là phổ biến ý thức và nâng cao kiến thức và khuyến khích, hỗ trợ nghiên cứu về tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa, mặt biển và thềm lục địa, chuẩn bị các chứng cứ lịch sử và pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp sau này. Bằng con đường truyền thông và ngoại giao, vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.



Theo Zou Keyuan thuộc ĐHQG Singapore thì các đường viền này không nhất thiết phản ánh quan điểm ban đầu của Trung Quốc về lãnh hải của nước này. Tuy nhiên, với việc Trung Quốc phản ứng quyết liệt trước các động thái khai thác dầu khí của Việt Nam ở vùng Tư Chính – Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn thì có vẻ như tới giờ họ đã nghiễm nhiên coi toàn bộ diện tích mặt biển gói bằng 9 đường viền gạch đứt là lãnh hải của họ.


Trung Quốc mạnh hơn hẳn Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng tranh chấp như Phillipine hay Malaysia. Đây là một sự thực rõ như ban ngày. Sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế và quân sự, kèm theo các phản ứng rất chừng mực và đơn lẻ, từ các đối thủ ASEAN đã khiến Trung Quốc tùy ý vận dụng chiến lược diều hâu trên Biển Đông.

Từ khoảng 20 năm đổ lại đây, họ đã sử dụng một công thức tổng hợp bao gồm (1) tấn công quân sự quy mô nhỏ (Việt Nam, 1988, Philippine, 1996, 1997), (2) đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng tranh chấp, (3) đe dọa bằng vũ lực (đối với ngư dân) hoặc sức ép kinh tế (với các tập đoàn dầu khí quốc tế) nhằm ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp, (4) chia rẽ các đối thủ bằng kinh tế và ngoại giao, và (5) tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới.


Công thức này có mục tiêu hướng vào việc thiết lập chủ quyền trên thực tế (de-facto) trên vùng biển này. Đứng về phía Trung Quốc thì chiến lược này là tối ưu vì một mặt nó không biến Trung Quốc thành một gã đồ tể hiếu chiến, nhưng lại giúp họ từng bước lấy được Biển Đông trong khi tuyên bố chủ quyền của họ không hề có cơ sở pháp lý (de-jure). Đáng tiếc cho ASEAN là chiến lược này đang đạt được các thành quả ngoài sức mong đợi cho Trung Quốc.


Chiến lược diều hâu trên Biển Đông Trung Hoa












Người lính hải quân canh gác vùng biển Đông thiêng liêng của Tổ quốc.

Ảnh: Hà Trường



Cần nhớ rằng chiến lược diều hâu không chỉ được Trung Quốc sử dụng trên Biển Đông. Họ cũng đã từng sử dụng công thức này trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông Trung Quốc (East China Sea) với Nhật Bản. Tuy nhiên, kết quả của nó lại không giống như thành tựu mà nó đưa lại trong cuộc tranh chấp trên Biển Đông.


Trong cuộc tranh chấp với Nhật, Trung Quốc cũng đơn phương tiến hành thăm dò/khai thác trên vùng biển tranh chấp bất chấp sự phản đối quyết liệt của Nhật. Họ cũng thường xuyên đưa tàu chiến và tàu ngầm tới vùng biển này để dằn mặt hải quân Nhật Bản. Căng thẳng diễn ra đỉnh điểm vào cuối 2003 và đầu 2004, tới mức chiến tranh tưởng như đã cận kề[2].












Từ tháng 8, 2003, chính phủ Trung Quốc đã ký xong các thỏa thuận khai thác với các công ty dầu khí Trung Quốc và nước ngoài như Royal Dutch/Shell và Unocal với trị giá lên tới nhiều tỉ Mỹ kim. Nhật lên tiếng phản đối vì cho rằng hoạt động khai thác này lấy cớ rằng rằng nó sẽ hút cạn nguồn dầu khí nằm sâu trong lòng biển thuộc về hải phận của Nhật. Trung Quốc bỏ ngoài tai phản ứng này của đối phương.


Trước động thái của Trung Quốc, Nhật đã quyết định trả đũa. Họ đã đưa tàu thăm dò tới vùng biển tranh chấp từ tháng 7, 2004 để chuẩn bị đơn phương thăm dò và khai thác. Đương nhiên Trung Quốc đã quyết liệt phản đối và coi hoạt động này là vi phạm chủ quyền. Tuy nhiên, các phản ứn chỉ dừng lại ở mức ngoại giao và kinh tế.


Khi cả hai bên đã bộc lộ thái độ sẵn sàng ăn miếng trả miếng, thì lối thoát duy nhất chỉ có thể là hợp tác khai thác – trừ khi họ sẵn sàng cho chiến tranh. Sau nhiều vòng đàm phán, tới tháng 6, 2008, Nhật và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận khai thác chung. Các khu vực khai thác chung được thỏa thuận đều nằm trên vùng giáp ranh giữa hải giới của hai nước, nhưng theo quan điểm của Nhật chứ không phải theo quan điểm của Trung Quốc (bản đồ 1).


Rõ ràng là trong thỏa thuận này, đường ranh giới do Trung Quốc vẽ không có chút giá trị nào. Nhật Bản có thể phải nhượng bộ ít nhiều đứng từ lập trường của họ (thí dụ về quy tắc ăn chia trong hợp tác khai thác) nhưng lập trường của họ về ranh giới trên biển Đông Trung Quốc đã được giữ vững.


Chiến lược diều hâu ở Biển Đông












Tư liệu lịch sử
>> Nguyễn Phúc Nguyên - Vị chúa mở cõi, thành lập đội Hoàng Sa


>> Kỳ 1: Đội hùng binh của biển


>> Kỳ 2: Người dựng bia chủ quyền ở Hoàng Sa


>> Hải đội Hoàng sa (Kỳ 3): Bản hùng ca bất tử


>> Hải đội Hoàng Sa (kỳ 4): Đời đời không quên


Trong thỏa thuận hợp tác với Nhật, hai bên đã cùng viện dẫn Công ước Quốc tế về Luật biển. Lập trường của họ khác nhau ở chỗ giải thích luật này như thế nào. Trong khi Nhật bản cho rằng phải sử dụng đường trung tuyến làm ranh giới thì Trung Quốc cho rằng phải sử dụng giới hạn thềm lục địa của nước này làm ranh giới[3]. Cả hai cách giải thích này đều đã có tiền lệ, và vì thế tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc không phải không có cơ sở.


Trái lại, tuyên bố của họ về chủ quyền trên Biển Đông, với bản đồ chủ quyền gồm 9 điểm gạch nối lại hoàn toàn tùy tiện và không có cơ sở pháp lý. Hình lưỡi bò này xuất hiện trước cả Công ước Geneva về thềm lục địa (1958) và Công ước Quốc tế về luật biển (1982). Từ khi 2 công ước này ra đời, Trung Quốc vẫn không sửa lại bản đồ xác định chủ quyền của họ.


Thiếu cơ sở pháp lý như vậy nhưng nước này đã rất thành công trong chiến lược tiến chiếm Biển Đông. Họ đã thành công trong mục tiêu chia rẽ các nước ASEAN có cùng tranh chấp. Họ cũng thành công trong việc dằn mặt ngư dân các nước láng giềng cũng như các tập đoàn dầu khí quốc tế muốn làm ăn với Việt Nam. Trung Quốc đã tổ chức thăm dò ở các vùng biển sát thềm lục địa (và nằm trong vùng đặc quyền) của Việt Nam.


Gần đây nhất, sau nhiều năm tổ chức thăm dò, vào ngày 24 tháng 11 vừa qua, Trung Quốc đã công bố dự án khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trên Biển Đông với trị giá lên tới 29 tỉ Mỹ kim. Tuyên bố này nhanh chóng trở thành tin trang nhất trên khắp thế giới[4]. Phần lớn các hãng tin quốc tế, khi đưa tin về dự án này đã không đả động gì tới thực tế là vùng biển này đang bị tranh chấp, và thực tế là Trung Quốc không hề có chủ quyền về mặt pháp lý ở đây[5].


Lý do thành công của diều hâu













Nghe bài hát:
Nơi đảo xa…


Có ba lý do quan trọng để chiến lược diều hâu của Trung Quốc thành công ở Biển Đông: Một là các nước ASEAN như Việt Nam và Phillipine đã rất yếu trong việc đưa vấn đề tranh chấp này tới công luận quốc tế trong khi cỗ máy tuyên truyền khổng lồ của Trung Quốc đã làm tốt việc kết nối Biển Nam Trung Quốc với chủ quyền của Trung Quốc. Vì thế, về mặt công luận quốc tế, Việt Nam và các nước ASEAN cùng tranh chấp ở Biển Đông không được ủng hộ - mặc dù lập trường của họ chính nghĩa hơn về mặt pháp lý.


Thứ hai là các nước này đều phản ứng rất yếu ớt trước sự lấn át của Trung Quốc. Điều này có cơ sở thực tế là nếu đứng riêng biệt từng nước thì họ đều ở vào thế yếu xét cả về tiềm lực kinh tế và quân sự. Do ở thế yếu, họ không thể đưa ra những đe dọa khả tín nào ngay cả khi họ muốn.


Thứ ba là mặc dù ở vào tình thế lép vế nếu đứng riêng lẻ, các nước ASEAN lại không hợp tác với nhau trong cuộc tranh chấp với Trung Quốc. Thí dụ như Phillipine đã dễ dàng bị mua đứt để đồng ý ký thỏa thuận hợp tác song phương với Trung Quốc trong khi bỏ mặc Việt Nam sang một bên. Điều này phản ánh ba thực tế đáng buồn: (1) sức ảnh hưởng của Trung Quốc ăn quá sâu vào ASEAN, (2) thiếu sự tin tưởng lẫn nhau giữa các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông, (3) các chính phủ ASEAN trong từng thời điểm cụ thể đã tỏ ra thiếu viễn kiến.


Bài học về cuộc tranh chấp của Trung Quốc với Nhật và thỏa ước hợp tác khai thác giữa hai nước này cho thấy Trung Quốc không phải không chịu nhượng bộ. Diều hâu chỉ có thể nhượng bộ diều hâu chứ không thể nhượng bộ bồ câu. Với các nước ASEAN có tranh chấp trên Biển Đông, trừ phi họ cùng đứng lại với nhau, sẽ không phải là đối thủ đáng để Trung Quốc nhượng bộ.


Quỹ nghiên cứu Biển Đông, trong nỗ lực đem lại sự tin tưởng lẫn nhau và khả năng hợp tác giữa các nước ASEAN trên vấn đề Biển Đông, đã đề xướng các nước này gác qua một bên các tranh chấp về đảo/bãi đá trên ở Trường Sa để tập trung vào việc phân định một cách công bằng chủ quyền trên vùng biển này theo Công ước Quốc tế về luật biển.


Có thể nói không ngoa rằng đây là một trong những cửa thoát hẹp, nếu không muốn nói là cửa thoát duy nhất, cho các nước nhỏ yếu trong ASEAN trong cuộc đối đầu với chiến lược diều hâu của Trung Quốc trên Biển Đông.




  • Dự Trần




Blinklist Blogmarks del.icio.us Digg Ma.gnolia My Web 2.0 Newsvine Reddit